Xây dựng nền hành chính công hiện đại – kinh nghiệm của Xin-ga-po, Nhật Bản và Trung Quốc

 

Gần nửa thế kỷ qua, với rất nhiều khó khăn và thách thức, các nước trong khu vực châu Á như Xin-ga-po, Hàn Quốc, Trung Quốc đã đạt được những bước tiến mạnh mẽ về kinh tế. Một trong những nguyên nhân chủ yếu để có được những thành tựu đó là nhờ tập trung cải cách hành chính (CCHC), xây dựng và đổi mới hệ thống hành chính công hiện đại, tinh gọn, hiệu quả. Dưới đây là những điểm nhấn trong nền hành chính công của các quốc gia này và một số kinh nghiệm để Việt Nam tham khảo.

Xin-ga-po xây dựng nền hành chính công theo mô hình quản trị doanh nghiệp, chống tham nhũng triệt để, thu hút  nhân tài để phát triển. Nền hành chính công vụ Xin-ga-po hiện nay là kết quả của 2 phong trào cải cách: phong trào “Hướng tới sự thay đổi” – trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý để thích ứng với sự thay đổi trong những năm 1970-1980 và chương trình cải cách “Nền công vụ thế kỷ 21” bắt đầu từ năm 1991. Mô hình quản lý hành chính công mới của Xin-ga-po được xây dựng trên cơ sở áp dụng bộ quy chuẩn ISO 9000 về quản trị doanh nghiệp trong bộ máy hành chính, coi đó là công cụ loại bỏ quan liêu trong thể chế hành chính, đồng thời là công cụ đánh giá hiệu quả bộ máy, phân loại công chức. Chính phủ thực hiện vai trò hỗ trợ doanh nghiệp, phát huy tính tự chủ của doanh nghiệp. Xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấc của bộ máy hành chính và thường xuyên rà soát để loại bỏ những quy định lỗi thời không còn phù hợp. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả. Thực hiện chính sách trả lương xứng đáng cho cán bộ, công chức, qua đó hạn chế tối đa nạn tham nhũng, minh bạch hóa hoạt động của Chính phủ, buộc cán bộ công chức phải cạnh tranh và tập trung cho công việc được giao. Không chỉ tìm kiếm tài năng trong nước, Xin-ga-po còn có chính sách thu hút và sử dụng nhân tài ngoại quốc, coi đó là nguồn lực quan trọng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế.

Nhật Bản

Là nước nghèo nàn về tài nguyên với dân số khá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong Thế chiến thứ II, nhưng với các chính sách phù hợp, Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) và phát triển cao độ (1955-1990) khiến cho thế giới hết sức kinh ngạc. Từ thập kỷ 90 thế kỷ XX đến nay, tuy tốc độ phát triển đã chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một trong các nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới.

Cuối năm 1996, Hội đồng CCHC và cải cách cơ cấu được thành lập, tháng 6/1998 đã ban hành một đạo luật cơ bản về cải cách cơ cấu Chính phủ trung ương và lập ra Ban Chỉ đạo cải cách cơ cấu Chính phủ trung ương và được đánh giá là một cuộc cải cách lớn nhất kể từ thời Minh Trị đến nay. CCHC đã được khẩn trương thực hiện vì sau thời gian dài thành công rực rỡ về phát triển kinh tế, đại bộ phận người dân Nhật Bản có tâm lý chung là tự mãn, ngại thay đổi, một bộ phận còn có tính ỷ lại như: cấp dưới chờ đợi cấp trên, thiếu chủ động, không dám tự quyết, nhân dân cũng có tâm lý ỷ lại vào nhà nước. Mục tiêu cải cách của Nhật Bản là xây dựng một chính phủ có BMHC gọn nhẹ, hiệu quả cao nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Thủ tướng và nội các. Phương pháp thực hiện là tổ chức lại và giảm số lượng các Bộ, xây dựng hệ thống các CQHC độc lập, quy định rõ phạm vi thẩm quyền và nâng cao hiệu quả việc phối hợp công tác giữa các cơ quan; thiết lập một hệ thống tiêu chí nhằm đánh giá các chính sách, tách bộ phận hoạch định chính sách khỏi các cơ quan có chức năng tổ chức, đẩy mạnh tư nhân hóa, thuê khoán bên ngoài một loạt dịch vụ…

Kết quả thu được rất đáng khích lệ, bộ máy Chính phủ ở trung ương được thu gọn đáng kể, từ 23 Bộ và một Văn phòng xuống còn 12 Bộ và một Văn phòng; số lượng các tổ chức bên trong của các CQHC giảm đáng kể, từ 128 đơn vị cấp vụ, cục và tương đương thuộc các CQHC trước đây, nay đã giảm xuống còn 96 đơn vị; từ 1.600 đơn vị cấp phòng và tương đương thuộc các cơ quan, tổ chức, nay giảm xuống còn 995 đơn vị. Số lượng công chức làm việc tại các CQHC giảm khoảng 300.000 người và sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới; vai trò của Văn phòng Nội các đã được nâng tầm so với các Bộ; tăng cường quyền lực và khả năng kiểm soát của Thủ tướng đối với các Bộ. Trước cải cách, đa phần các chính sách được các Bộ đề xuất, sau cải cách thì những chính sách quan trọng có tầm chiến lược được Thủ tướng chỉ đạo và đề xuất…

Trung Quốc gắn cải cách thể chế với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, chuyển nhanh từ tập trung quan liêu – bao cấp sang cơ chế thị trường, tinh giản và điều chỉnh chức năng bộ máy hành chính công. Từ năm 1978 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành sáu đợt CCHC với quy mô lớn vào các năm 1981, 1988, 1993, 1998, 2003 và 2008. Kết quả của các lần cải cách này đã thay đổi rõ nét nền hành chính Trung Quốc, trong đó giai đoạn 1998-2002 được coi là mốc quan trọng. Nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn này là cơ cấu lại Chính phủ, điều chỉnh lại vai trò, nhiệm vụ của các cơ quan chính phủ để phù hợp với sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, bảo đảm thích ứng với quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Qua cải cách, đã giảm 900 trong tổng số 2000 cơ cấu tổ chức ở 4 cấp chính quyền, Quốc vụ viện giảm từ 100 cơ quan xuống còn 27 cơ quan (năm 2008). Nền hành chính công vụ Trung Quốc hiện đã thực sự thay đổi vai trò: chuyển từ chính quyền vô hạn (cái gì cũng làm) sang chính quyền hữu hạn (quản lý nhà nước bằng pháp luật). Trong quản lý kinh tế, Trung Quốc thành lập cơ quan quản lý công sản thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các cấp, trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, bỏ cơ chế chính quyền trực tiếp quản lý doanh nghiệp và sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp. Chính quyền trung ương chỉ tập trung quản lý 7 lĩnh vực là: quốc phòng, ngoại giao, chính sách tài chính, ngân hàng, điện lực, thông tin, đường sắt. Các lĩnh vực còn lại thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương. Trung Quốc áp dụng rộng rãi hình thức thi tuyển công chức ở các cấp và thay chế độ tuyển dụng suốt đời bằng chế độ hợp đồng có thời hạn đối với công chức, viên chức. Quyết liệt đấu tranh chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy từ Trung ương tới địa phương.

Từ những điểm nhấn trong xây dựng nền hành chính công của Hàn Quốc, Xin-ga-po, Trung Quốc cho thấy, dù có sự khác biệt về thể chế chính trị nhưng nỗ lực xây dựng nền hành chính công hiện đại ở cả 3 nước đều cho những kinh nghiệm tốt đối với nước ta.

Những yêu cầu xây dựng một nền hành chính công hiện đại ở Việt Nam

Công cuộc đổi mới, phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đặt ra yêu cầu về một nền hành chính công hiện đại, năng động, hiệu quả. Điều đó đòi hỏi phải có thời gian và thường xuyên rút kinh nghiệm, điều chỉnh nằm bảo đảm tính ổn định, bền vững. Từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực cho thấy, trước hết phải tập trung CCHC với các yêu cầu cụ thể, đó là:

Thứ nhất, phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết của Đảng và Nhà nước trong suốt quá trình thực hiện CCHC, vốn là một việc khó, gặp nhiều cản trở, do đó phải có quyết tâm và sự lãnh đạo quyết liệt từ cấp cao nhất của hệ thống chính trị thì cải cách mới thành công.

Thứ hai, đổi mới nhận thức về vai trò và chức năng của nhà nước từ quản lý sang phục vụ. Lấy yêu cầu của người dân và doanh nghiệp làm cơ sở cho những quyết sách của Nhà nước. Hướng tới một nền hành chính công hiện đại, quản lý nhà nước chủ yếu tập trung vào các vai trò như điều tiết kinh tế, giám sát thị trường, quản lý xã hội và cung ứng một phần dịch vụ công. Từng bước chuyển đổi vai trò của Nhà nước để thích ứng với yêu cầu của một xã hội đang phát triển không ngừng và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, cải cách cần được tiến hành kiên trì, lâu dài và đồng bộ, toàn diện trong toàn bộ hệ thống chính trị. Các nước trên bắt đầu CCHC từ những năm 70 thế kỷ trước và vẫn đang tiếp tục, bởi họ làm từng phần, xác định giai đoạn và mục tiêu trọng điểm. Như ở Trung Quốc, quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về thể chế chính trị, CCHC được tiến hành đồng thời trên 3 lĩnh vực nền tảng là lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong đó CCHC tại cơ quan hành pháp giữ vai trò quan trọng.

Thứ tư, xây dựng, đào tạo đội ngũ công chức nhà nước đủ năng lực, có khả năng đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao trong thực thi công vụ.

Thứ năm, tăng cường đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở kỹ thuật hạ tầng đặc biệt là công nghệ thông tin.

Thứ sáu, giao lưu, hợp tác quốc tế về CCHC, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về CCHC và lựa chọn các ưu việt áp dụng phù hợp để xây dựng nền hành chính công hiện đại với bản sắc riêng.