Cải cách thủ tục hành chính: Giấc mơ Hàn Quốc

 

Hiện nay, thủ tục hành chính cứ mỗi anh “một mảnh tình riêng” thì sẽ không huy động được cả xã hội để phát triển.

Cải cách là đụng chạm

Ngày 24/7, tại Diễn đàn khoa học “Đánh giá kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2016: Đo lường từ sự hài lòng của người dân”, do Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức, Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc đánh giá cải cách sẽ động chạm tới toàn bộ quan hệ của nhà nước với dân và doanh nghiệp.

Ông Phúc nói rõ: “Cứ nói đột phá vào cải cách hành chính nhưng không biết bao giờ mới phá nổi. Hiện chúng ta đang làm quá chậm so với các lĩnh vực khác như hội nhập kinh tế thị trường. Đã đến lúc phải lấy thực tiễn làm trọng tâm.

Chứ căn cứ vào văn bản, giấy tờ mà văn bản thì nhiều lắm, hàng ngàn văn bản sẽ khiến rơi vào ma trận, tự làm khó, trói buộc nhau. Do đó, nhà nước chỉ cần giữ lại những lĩnh vực chỉ nhà nước có thể làm, còn lại chuyển hết cho người dân và doanh nghiệp, lại cắt giảm được bộ máy.

“Chứ như hiện nay, mỗi anh “một mảnh tình riêng” thì sẽ không huy động được cả xã hội để phát triển”.

Hơn nữa, theo vị chuyên gia này, thì chúng ta đang chuyển nền hành chính quản lý cai trị sang phục vụ phát triển, chuyển quản lý vi mô sang vĩ mô, chuyển trực tiếp sang gián tiếp, gián tiếp bằng quy định, quy chế, nên cần có tư tưởng phân cấp, phân quyền.

Phải làm rõ việc Trung ương, Tỉnh, huyện, xã làm, ở các nước cấp cơ sở chỉ làm 6 việc, Trung ương làm 5 việc quy định rất rõ ràng, khi làm được như vậy thì toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước được giảm nhẹ, việc ai người đó làm. Đây chính là gốc rễ của mọi vấn đề, nếu không thay đổi, xử lý chắc chắn không có chuyển biến, mà nếu có cũng rất chậm chạp.

Ông Thang Văn Phúc cũng chỉ ra một thứ bệnh của Việt Nam hiện nay là tâm lý bao biện, “làm đẹp” báo cáo, như quá nhiều vấn đề bất cập được nêu ra nhưng sau đó, các bộ ngành xử lý đến đâu thì không kiểm soát được, hiệu quả quản lý không đánh giá được.

“Tất cả cùng kêu chậm chạp, kết quả không như mong muốn nhưng rồi lại vui vẻ cùng nhận khuyết điểm tập thể. Chúng ta còn nợ dân, nợ doanh nghiệp nhiều lắm. Không công phá được thành trì trì trệ, lạc hậu, vô trách nhiệm thì rất khó hội nhập.

Rõ ràng đối tượng phục vụ của nhà nước là dân, là doanh nghiệp, họ là khách hàng, cần cách ứng xử trên cơ sở khoa học quản lý nhưng chúng ta lại không thống nhất, đó là vô trách nhiệm. Hơn nữa, chúng ta đang có tâm lý sợ dân sai, trong khi, thủ tục chính sách sai, chứ dân không sai”, ông Phúc bức xúc.

Đã có chuyển động nhưng chưa phải mấu chốt

Trong khi đó, cũng đưa ra quan điểm, PGS.TS. Phạm Bích San – Viện Nghiên cứu và Tư vấn về phát triển, cho rằng, cải cách thủ tục hành chính trong 5 năm, 2011-2016, là đáng khích lệ khi đã có 4.525/4.723 thủ tục đã được đơn giản hóa.

Nhìn chung, có thể thấy việc cải cách thủ tục hành chính đã có những chuyển động cần thiết và thu được kết quả đáng khích lệ trong việc giải quyết những thủ tục thuộc loại “cứng” trong hệ thống các thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, sự phát triển của đất nước sang hướng hiện đại hoá, công nghiệp hóa đặt ra rất nhiều vấn đề mà bộ máy hành chính Việt Nam xem ra càng ngày càng không phù hợp để giải quyết. Ví dụ: các khu vực mờ trong việc cấp sổ đỏ là rất lớn, trong khi các quy định thủ tục là giới hạn trong một số quy chuẩn, do đó tạo nhiều phiền hà cho người dân và khiếu kiện về đất đai vẫn kéo dài.

Vấn đề ở đây không chỉ là cải cách các thủ tục hành chính, mà là thiết kế lại bộ máy hành chính trên những nguyên lý khác mà ở đó có ít nhất ba nguyên lý cần được tuân thủ: Một là, có sức ép thường trực lên bộ máy về hiệu quả công việc; hai là, có sự giám sát của xã hội dân sự đối với bộ máy hành chính và ba là, có sự đào tạo kỹ lưỡng và thiết thực đối với đội ngũ hành chính từ trung ương đến cơ sở…

Bên cạnh đó có phải định hướng “mở” cho bộ máy hành chính để xử lý các trường hợp ngoại lệ.

Ông San chỉ rõ: “Mục tiêu của cải cách các thủ tục hành chính là tạo sự hài lòng cho người dân; tạo sự thông suốt, nhất quán và ổn định của hệ thống hành chính và tính hiệu quả. Nên cần phải nêu rõ những mục tiêu mà cải cách thủ tục hành chính theo đuổi, thay vì chỉ là “tạo tiền đề cho…”.

Đồng thời, nên nêu rõ các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá cụ thể, thay vì nêu những con số là đã xử lý bao nhiêu văn bản vì khó biết được những văn bản đó có mục đích gì và có đáng để sửa đổi hay không và sai sót là do bản thân vấn đề hay trình độ của người xử lý.

Nên dùng các chỉ báo như mức độ đưa phong bì khi tiếp xúc với bộ máy hành chính, mức độ hài lòng của người dân và mức độ cảm nhận về tham nhũng.

Ví dụ: Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) 2016 xếp hạng 176 quốc gia được tổ chức Minh bạch quốc tế công bố, ngày 25/1 Việt Nam tăng 2 điểm so với mức 31/100 từ 2012-2015 lên 33/100 đứng thứ 113/176.

Nên có các tổ chức độc lập xây dựng và thu thập các chỉ báo đánh giá về hiệu quả của cải cách thủ tục hành chính. Tốt nhất là các tổ chức thuộc nhóm các tổ chức xã hội tiến hành hoạt động này.

Ví dụ: việc đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với bộ máy hành chính mà do Bộ Nội vụ tiến hành thì các kết quả có thể không phản ánh được thật chính xác tình hình thực tế đang diễn ra.

Đất Việt