Chính sách thị thực tại Việt Nam – Một số khó khăn, bất cập và đề xuất giải pháp tháo gỡ để nâng cao năng lực cạnh tranh

 
Theo Hội đồng Tư vấn Du lịch (TAB) và Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân của Hội đồng tư vấn cải cách TTHC, để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo đột phá cho ngành du lịch phát triển một cách có chất lượng, tạo thuận lợi tối đa cho khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, thu hút đầu tư trực tiếp và lưu lượng khách du lịch quốc tế, thì việc nghiên cứu, tháo gỡ các khó khăn, bất cập về chính sách thị thực là vô cùng cần thiết.
 Trong 3 năm trở lại đây, số lượt khách du lịch quốc tế đã tăng lên đáng kể, thể hiện mức tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 2018, 54% trên tổng số khách du lịch quốc tế đến từ hai thị trường là Trung Quốc (4,96 triệu) và Hàn Quốc (3,49 triệu). Trong khi, Trung Quốc là thị trường dễ biến động nhất và hiện ta đang thu hút phân khúc chi trả thấp, chỉ thu được phần nhỏ lợi nhuận, phần lớn chi phí còn lại phải trả cho dịch vụ và hàng hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc; nguồn khách du lịch Hàn Quốc có xu thế tăng trưởng theo trào lưu. Vì vậy, để đạt được các mục tiêu như đã đặt ra tại Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì cần thiết phải có giải pháp thu hút lượng khách du lịch từ thị trường khác, nhất là đối với khách từ các thị trường xa, có thời gian lưu trú dài, mức chi tiêu cao. Trong đó, vấn đề thị thực là một vấn đề lớn liên quan tới mức tăng trưởng của khách du lịch quốc tế đến. Tuy nhiên, vấn đề này hiện đang phát sinh một số vướng mắc, bất cập. Hội đồng Tư vấn Du lịch đã khảo sát và đưa ra một số kiến nghị về vấn đề thị thực, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về việc miễn thị thực
So với các quốc gia trong khu vực, chính sách thị thực của Việt Nam bị đánh giá kém hấp dẫn hơn. Trong khi các nước như Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a đã thực hiện miễn visa cho khoảng 160 nước thì Việt Nam mới chỉ miễn thị thực cho 24 quốc gia. Với chỉ có 24 quốc gia được miễn thị thực, Việt Nam đang tụt lại phía sau hầu hết các quốc gia trong khối ASEAN. Quý I/ 2019, Hội đồng tư vấn du lịch (TAB) đã tiến hành điều tra về chính sách thị thực hiện thời và tác động đối với khách du lịch quốc tế, kết quả cho thấy 78,5% người trả lời khảo sát cho biết nhiều khả năng họ sẽ quay trở lại Việt Nam nếu họ không cần thị thực nhập cảnh.
Bên cạnh đó, hiện nay các nước Đông Nam Á thường miễn thị thực từ 30 đến 90 ngày cho du khách, trong khi nước ta chủ yếu chỉ miễn thị thực trong 15 ngày, ngắn hơn cả thời gian trung bình đi tour du lịch của du khách. Vì vậy, nhiều khách quốc tế đi du lịch Việt Nam vẫn phải thực hiện thủ tục xin visa dài ngày mà không được hưởng cơ hội miễn thị thực. Trong khi, đối tượng này thường là các khách du lịch từ thị trường xa, có mức chi tiêu cao.
Một vấn đề bất cập nữa đó là, theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì một trong những điều kiện nhập cảnh vào Việt Nam là: Người nước ngoài nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực thì hộ chiếu phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 06 tháng và phải cách thời điểm xuất cảnh Việt Nam lần trước ít nhất 30 ngày. Việc quy định như hiện nay không đem lại giá trị hay lợi ích gì cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh cũng như du lịch. Mà đó chính là những quy định gây khó khăn cho doanh nghiệp du lịch và tạo ra “rào cản” vô hình cho du khách
Từ phân tích trên, cho thấy để đạt được các mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 08-NQ/TW, thì Việt Nam cần phải gia tăng số lượt khách đến từ các thị trường xa để giúp thay đổi thành phần tổng hợp khách du lịch hiện tại và nâng mức chi tiêu bình quân cho mỗi khách du lịch. Theo đó, việc miễn thị thực cho công dân của 5 quốc gia châu Âu có tác động đáng kể về lượng khách đến từ các quốc gia đó. Vì vậy, ngoài 24 nước đã được miễn thị thực, cần tiếp tục miễn thị thực cho công dân các quốc gia Úc và Niu Di-lân, Ca-na-đa, Bỉ, Hà Lan và Thụy Sĩ. Đồng thời, nâng thời hạn miễn thị thực lên tiêu chuẩn 30 ngày; dỡ bỏ điều kiện về thời điểm nhập cảnh phải cách thời điểm xuất cảnh theo diện miễn thị thực trước đó ít nhất 30 ngày, để khuyến khích khách du lịch đi bằng đường không lựa chọn vào Việt Nam, như là một trung tâm trong chuyến đi đến nhiều nước khu vực Đông Dương hoặc Đông Nam Á.
Thứ hai, về thị thực điện tử
Có thể khẳng định, chủ trương thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam là bước đột phá về cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh. Ngay sau khi chủ trương này được thực hiện đã nhận được sự đồng tình, đánh giá cao của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở cả trong và ngoài nước, hiện có 41 nước có công dân được thí điểm cấp thị thực điện tử Việt Nam. Dư luận đều đánh giá thủ tục đề nghị cấp thị thực điện tử của Việt Nam đơn giản, nhanh chóng, công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, nhất là những người chưa có điều kiện liên hệ với cơ quan, tổ chức ở trong nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả rất đáng được ghi nhận nêu trên, thì vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập cần sớm được xem xét tháo gỡ, cụ thể: Trang web chính thức và tốc độ truy cập cần phải được nâng cấp vì nhiều trường hợp xảy ra lỗi hết thời gian khi khách đang cố gắng truy cập; khi truy cập trang web tiếng Anh www.immigration.gov.vn tại Việt Nam thường gặp phải hiển thị “Trang này không an toàn”, “Có khả năng trang web này bị đối tượng nào đó cố gây hại hoặc đánh cắp thông tin gửi tới máy chủ”. Tuy nhiên, khi truy cập trang web này từ nước ngoài thì có phản hồi trang web có thể truy cập được. Bên cạnh đó, nhiều trang web có địa chỉ dễ gây nhầm lẫn với trang web chính thức. Các trang web này cũng cung cấp dịch vụ cấp thị thực và tính phí cho khách các khoản phụ phí không cần thiết.
Mặt khác, còn thiếu chủ động trong việc thông tin cho công dân các quốc gia được miễn thị thực hoặc có thể được cấp thị thực điện tử hoặc thị thực tại cửa khẩu, ví dụ như Đại sứ quán Việt Nam không cung cấp thông tin trên trang web của Đại sứ quán về việc cấp thị thực điện tử, trong đó có trường hợp của Anh. Trang web này không cập nhật thông tin gần đây về việc mở rộng danh sách các nước được cấp thị thực điện tử. Bên cạnh đó, có trường hợp Đại sứ quán tính phí không chính thức cho việc cấp thị thực hoặc sử dụng tài khoản thư điện tử gmail để liên lạc với khách du lịch mà không dùng địa chỉ email chính thức của Đại sứ quán.
Để giải quyết các vướng mắc, bất cập trên thì cần thiết sớm nâng cấp trang web chính thức cho việc nộp đơn xin cấp thị thực điện tử để nâng cao tính an ninh và tốc độ truy cập; chỉ sử dụng một tên miền chính thức được công bố rộng rãi và đăng tải rõ ràng trên tất cả các trang web Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài; khuyến nghị tất cả nhân viên Đại sứ quán Việt Nam sử dụng địa chỉ email thuộc tên miền Đại sứ quán của họ, không dùng địa chỉ thư điện tử cá nhân hay gmail. Đồng thời, cho phép nộp đơn xin cấp thị thực điện tử nhập cảnh nhiều lần và thị thực 90 ngày; giới hạn quy trình cấp thị thực chỉ được thực hiện trên trang web chính thức; phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả nhất các kênh marketing để tiếp thị chương trình thị thực điện tử.
Về thời hạn của thị thực
Để tạo thuận lợi cho du khách, nên nghiên cứu, sửa đổi quy định cấp miễn thị thực theo hướng kéo dài thời hạn đến 5 năm và gia hạn ít nhất là 6 tháng trước khi hết hạn để khách du lịch từ các thị trường xa lên kế hoạch trước; cấp thị thực quá cảnh 48 hoặc 72 giờ cho khách du lịch ở thị trường xa./.
VPCP