Báo cáo xuất nhập khẩu 2017

 

BÁO BÁO XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 2017 (Phần 2)

 

  1. THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI
  2. Tình hình xuất nhập khẩu chung

Châu Phi gồm có 55 quốc gia, là thị trường có nhiều tiềm năng để

phát triển quan hệ kinh tế thương mại và hợp tác công nghiệp với Việt

Nam. Mặc dù còn nghèo, có sự chênh lệch lớn giữa các nước kinh tế phát

triển và các nước nghèo nhưng nhờ có nguồn thu từ xuất khẩu nhiều

loại tài nguyên quý và dân số đông nên Châu Phi hiện là thị trường có

sức mua khá mạnh.

Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tới Châu Phi

đạt 2,1 tỷ USD, giảm 3,4% so với năm 2016 và nhập khẩu đạt 1,35 tỷ USD,

tăng 29%. Trong đó đáng chú ý nhất là xuất khẩu sang Togo đạt kim ngạch

tăng trưởng rất mạnh, tăng 91,4% so với năm 2016. Ngoài ra còn có Ai Cập,

Algeria, Bờ Biển Ngà, Tanzania và Senegal là các thị trường mà Việt Nam

xuất khẩu hàng hóa tới thị trường này đạt kết quả tăng trưởng tốt. Còn lại

hầu hết các thị trường xuất khẩu khác của Việt Nam thuộc khu vực này

đều giảm so với năm trước.

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Châu Phi còn hẹp và đơn điệu, nếu

không tính các nhóm hàng xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI thì chỉ

tập trung vào một số mặt hàng như nông sản, thủy sản, giày dép, dệt may,…

Gạo chiếm trên 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Châu

Phi (Algeria, Bờ Biển Ngà, Ghana, Mozambique, Senegal,…) Đứng thứ hai

cà phê, chiếm 6,5% với các thị trường chủ yếu gồm Algeria, Ai Cập, Nam

Phi, Ma-rốc, Tunisia… Đứng thứ ba là mặt hàng thủy sản, chiếm 3,5% với

các thị trường Algeria, Ai Cập, Nam Phi… Hiện nay, cơ cấu hàng thủy sản

xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Phi ngày càng đa dạng do nhu cầu thị

trường ngày càng lớn, yêu cầu về chất lượng và đòi hỏi về mẫu mã không

quá khắt khe. Cá tra đang là mặt hàng thủy sản được ưa chuộng tại lục địa

này, trong đó các thị trường tiêu thụ lớn nhất là Ai Cập, Algeria, Tunisia…

Tiếp đến là giày dép tại các thị trường Bờ Biển Ngà, Ma-rốc, Nam Phi…

Bên cạnh các mặt hàng nông sản xuất khẩu thô và qua trung gian như

gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, cơm dừa, thủy sản…, đã có nhiều mặt hàng công

nghiệp có giá trị cao được xuất sang Châu Phi như điện thoại di động, máy

vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, dệt may, giày dép, máy móc thiết

bị, vật liệu xây dựng (sắt thép, xi măng), phân bón, hóa chất, linh kiện ô

tô, xe máy… Một số mặt hàng tiêu dùng khác có kim ngạch nhỏ nhưng có

nhiều triển vọng đẩy mạnh xuất khẩu sang Châu Phi trong thời gian tới

như: kem đánh răng, nước uống đóng chai, túi xách, sữa và sản phẩm sữa,

bia uống, dao cạo và lưỡi dao cạo…

Trong thời gian tới, một số mặt hàng có khả năng đẩy mạnh xuất khẩu

sang thị trường các nước Châu Phi gồm có gạo, thủy sản, cà phê, hạt tiêu,

dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, phân bón, hóa chất.

Một số khó khăn khi kinh doanh tại thị trường Châu Phi

  1. i) Tình hình chính trị xã hội của các nước Châu Phi mặc dù có nhiều tiến bộ

với xu thế chung là đi dần vào ổn định nhưng tại từng quốc gia vẫn tồn tại nhiều

mâu thuẫn, xung đột nội bộ tiềm ẩn có nguy cơ bùng phát bất cứ lúc nào.

  1. ii) Nền kinh tế của nhiều quốc gia Châu Phi bị suy thoái, giá dầu giảm

dẫn đến thu ngoại tệ giảm; Chính phủ một số nước đưa ra một số biện pháp

kỹ thuật nhằm hạn chế nhập khẩu (như tại Ai Cập, Algeria, Sudan, Nam

Phi, Angola…).118

 

iii) Thủ tục hành chính rườm rà, cơ sở hạ tầng kém phát triển, chi phí

thương mại, đầu tư cao dẫn đến sự kém hiệu quả trong các hoạt động kinh

doanh thương mại.

  1. iv) Mặc dù có dân số đông và diện tích lớn nhưng thị trường Châu Phi

có sức mua thấp, khoảng cách phân hoá giàu nghèo rất lớn và trình độ phát

triển rất khác nhau giữa các thị trường.

  1. v) Sự cạnh tranh quyết liệt từ Trung Quốc và Ấn Độ tại thị trường

Châu Phi thời gian gần đây. Các doanh nghiệp Trung Quốc chấp nhận bán

hàng trả chậm, trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam thường yêu cầu

thanh toán ngay, khiến nhiều đối tác chuyển hướng sang lựa chọn nhập

khẩu từ Trung Quốc.

  1. vi) Mức độ bảo hộ sản xuất trong nước đối với những ngành nghề sử

dụng nhiều lao động tại các nước Châu Phi khá cao (bao gồm các biện pháp

thuế quan và phi thuế quan), ảnh hưởng đến quan hệ thương mại và đầu

tư, đặc biệt là chính sách thay thế nhập khẩu, bảo hộ các ngành sản xuất

kém hiệu quả trong nước bằng mức thuế nhập khẩu cao…

  1. Xuất nhập khẩu với một số thị trường

2.1. Nam Phi

Hiện nay, Nam Phi là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại

Châu Phi. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Phi năm 2017

đạt gần 751,6 triệu USD, giảm 13,5%; kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam

từ quốc gia này đạt 242,3 triệu USD, tăng 62% so với năm 2016.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam tới thị trường Nam Phi

bao gồm: điện thoại di động, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện,

giầy dép, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, …

Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu có kim ngạch lớn từ Nam Phi gồm

chất dẻo nguyên liệu, kim loại thường; hàng rau quả; nguyên phụ liệu dệt,

may, da, giày; sản phẩm hóa chất…

Những khó khăn trong hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Nam Phi

– Tình trạng bất ổn chính trị trước thềm bầu cử 2018 khiến tỷ giá ngoại

tệ tại Nam Phi có nhiều biến động, ảnh hưởng đến hoạt động giao thương

của nước này.

– Một số mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam sang Nam Phi

giảm như cà phê, gạo, hạt tiêu, giầy dép, điện thoại di động và linh kiện,

hạt điều… do chính sách hạn chế nhập khẩu của Nam Phi.

2.2. Ai Cập

Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ai Cập đạt 321

triệu USD, tăng 9,6% so với năm trước.119

 

Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng có giá trị kim ngạch

xuất khẩu tăng trong năm 2017 gồm các mặt hàng truyền thống như cà

phê; hạt tiêu; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; xơ, sợi dệt các loại, dệt

may… Một số mặt hàng suy giảm về kim ngạch là thủy sản, phương tiện

vận tải và phụ tùng, sắt thép các loại.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ai Cập hiện đang chịu những

tác động tiêu cực từ một số yếu tố cơ bản: (i) sự khan hiếm ngoại tệ trầm

trọng ảnh hưởng tới vấn đề thanh toán hàng hóa nhập khẩu; (ii) lạm phát

ở mức cao khiến giá cả hàng hóa nhập khẩu đắt đỏ, nhu cầu sụt giảm; (iii)

sự cạnh tranh gay gắt từ phía các doanh nghiệp Trung Quốc có tiềm lực tài

chính mạnh sẵn sàng bán hàng trả chậm cho các nhà nhập khẩu Ai Cập.

Trong thời gian vừa qua, một số lô hàng xuất khẩu của Việt Nam phải

tái xuất trở lại Việt Nam hoặc buộc phải giảm giá thì nhà nhập khẩu mới

nhận hàng do sự chênh lệch tỷ giá quá cao (trước và sau thả nổi tỷ giá

khiến nhà nhập khẩu thua lỗ lớn), giá hàng trên thị trường thế giới giảm

mạnh (đặc biệt là mặt hàng hạt tiêu). Một số lô hàng thủy sản (cá basa) bị

tái xuất trả về do nhiễm khuẩn cũng gây ra quan ngại đối với uy tín hàng

thủy sản Việt Nam tại Ai Cập.

Nhập khẩu từ Ai Cập trong năm 2017, đạt 20,8 triệu USD, giảm 2,3% so

với năm 2016. Các mặt hàng nhập nhập khẩu tập trung vào các nhóm hàng

chính nguyên phụ liệu dệt may, da giầy, chất dẻo nguyên liệu, dược phẩm.

– Chính sách quản lý xuất nhập khẩu:

+ Chính sách thả nổi tỷ giá đồng bảng Ai Cập, lạm phát ở mức cao

khiến giá cả hàng hóa nhập khẩu đắt đỏ, nhu cầu sụt giảm mạnh và sự khó

khăn về ngoại tệ thanh toán của Ai Cập tiếp tục ảnh hưởng tới xuất khẩu

của Việt Nam sang thị trường Ai Cập.

+ Ai Cập bắt đầu triển khai mạnh mẽ chiến lược xuất khẩu, phấn đấu

đạt kim ngạch 34 tỷ USD vào năm 2020 với trọng tâm hỗ trợ xuất khẩu các

mặt hàng xi-măng, rau quả, quần áo, vật liệu xây dựng, hóa chất và các

sản phẩm cơ khí và điện tử. Thị trường Châu Phi được xác định là trọng

tâm trong giai đoạn này của Ai Cập. Các biện pháp thực hiện chiến lược

này tập trung vào các công tác xúc tiến thương mại, tín dụng xuất khẩu và

tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

+ Chính phủ Ai Cập đã thực hiện chính sách miễn thuế nhập khẩu

đường thô từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2017 nhằm gia tăng nguồn

cung, hạ giá bán.

+ Ai Cập đã áp thuế chống bán phá giá tạm thời đối với thép nhập khẩu

từ Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraina trong thời hạn 4 tháng bắt đầu

từ tháng 6/2017 nhằm bảo vệ ngành sản xuất thép nội địa. Mức thuế mới

cho sản phẩm thép cường lực nhập từ Trung Quốc là 17%, Thổ Nhĩ Kỳ từ

10%-19% và Ukraina là 15%-27%. Sản lượng thép cường lực sản xuất của

Ai Cập hiện đạt khoảng 7 triệu tấn/năm.120

 

2.3. Nigeria

Năm 2017, kim ngạch song phương đạt 517,2 triệu USD. Các mặt hàng

xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nigeria gồm điện thoại di động và linh

kiện, dệt may, linh kiện, phụ tùng xe máy…, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu

là hạt điều (chiếm 84,8%), gỗ và sản phẩm gỗ, hàng rau quả, hạt vừng,…

Nigeria có dân số đông trên 186 triệu người, là thị trường lớn thứ 2

tại Châu Phi nhưng sản xuất hàng tiêu dùng chưa đáp ứng được nhu cầu

trong nước trong đó có nhiều mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam. Những

mặt hàng Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này là các

mặt hàng tiêu dùng, lương thực thực phẩm, đặc biệt là gạo, hàng dệt may,

các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, cà phê, chè, máy móc, thiết bị….

Ngược lại, Việt Nam có thể nhập khẩu một số mặt hàng mà Nigeria có

thế mạnh trên cơ sở giá cả và chất lượng hợp lý như nhựa, nguyên liệu, hạt

điều thô, gỗ, bông…

Mặc dù nhu cầu nhập khẩu gạo của Nigeria rất lớn nhưng gạo của

Việt Nam chưa xâm nhập được thị trường này do mức thuế nhập khẩu của

Nigeria đối với mặt hàng gạo rất cao, cộng tổng các loại thuế và phí có thể

lên tới 80%. Mặt khác, tình trạng buôn lậu gạo qua đường tiểu ngạch từ các

nước lân cận sang Nigeria diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là từ Ghana và

Benin do có sự chênh lệch lớn về thuế nhập khẩu nên gạo xuất khẩu qua

đường chính thống của Việt Nam không thể cạnh tranh về giá.

Tình trạng giá dầu đứng ở mức thấp khiến nguồn thu ngoại tệ giảm

mạnh buộc nước này phải siết chặt chính sách ngoại tệ đã gây rất nhiều khó

khăn cho các nhà nhập khẩu Nigeria. Doanh nghiệp Nigeria không có cơ

hội tiếp cận nguồn ngoại tệ chính thức từ ngân hàng, trong khi tỷ giá tại thị

trường tự do lại quá cao và nguồn cung lại không phải lúc nào cũng sẵn có.

2.4. Ghana

Ghana chỉ có 25 triệu dân nhưng lại là nước có vị trí địa lý thuận lợi

về giao thông đường biển, đường bộ, cũng như có nhiều chính sách ưu đãi

trong nhập khẩu hàng hóa, hợp tác đầu tư. Ghana được đánh giá là cửa

ngõ trung chuyển các mặt hàng tới các nước của khu vực Tây Phi như:

Togo, Burkina Faso, Bờ Biển Ngà, Guinea thậm chí cả Nigeria. Ghana là

một nước có an ninh chính trị ổn định, đầu tư FDI vào Ghana ngày một

tăng, cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều nơi, đời sống kinh tế người dân

ngày càng được cải thiện. Chính phủ Ghana đang có nhiều chính sách hỗ

trợ để tăng cường phát triển nông nghiệp.

Tổng kim ngạch hai chiều Việt Nam – Ghana năm 2017 đạt mức 654,9

triệu USD (tăng 29,8%), trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 266,9 triệu

USD, giảm 11,7% và nhập khẩu đạt 388 triệu USD. Hiện nay, Ghana là thị

trường xuất khẩu gạo trọng điểm lớn thứ 3 của Việt Nam sau Trung Quốc

và Indonesia.121

 

Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Ghana bắt đầu có xu

hướng sụt giảm; nguyên nhân là do chính phủ Ghana đã tiến hành tăng

mức thuế nhập khẩu gạo lên thành 40%. Bên cạnh đó, tỷ lệ gạo buôn lậu

vào Ghana từ các nước láng giềng, đặc biệt là Bờ Biển Ngà đang ở mức cao

và diễn ra thường xuyên. Hiện tại, gạo Việt Nam được bán với số lượng rất

lớn tại Ghana, tuy nhiên hầu hết gạo của Việt Nam không xuất khẩu trực

tiếp tới nhà nhập khẩu của Ghana mà phải thông qua các công ty trung

gian quốc tế có đặt chi nhánh tại Việt Nam.

Ngoài mặt hàng gạo, Việt Nam xuất khẩu sang Ghana các nhóm hàng

chính khác như: sắt thép các loại, hàng dệt may, phân bón, sản phẩm hóa

chất, bánh kẹo và sản phẩm ngũ cốc, … Việt Nam nhập khẩu từ Ghana chủ

yếu là nguyên liệu thô gồm hạt điều và gỗ tự nhiên.

2.5. Tanzania

Về quan hệ thương mại song phương, trao đổi thương mại giữa hai nước

có sự tăng trưởng trong những năm gần đây. Năm 2017, kim ngạch xuất

nhập khẩu sang Tanzania đạt 334 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu đạt

29,1 triệu USD, tăng 1,8% so với năm 2016 với các mặt hàng chủ yếu là sản

phẩm dệt may, gạo, dây điện và dây cáp điện, máy móc, thiết bị, dụng cụ

và phụ tùng,… Việt Nam nhập khẩu từ Tanzania đạt 304,9 triệu USD, sản

phẩm chủ yếu là hạt điều, gỗ và sản phẩm gỗ.

Tanzania có nhu cầu nhập khẩu lớn đối với các mặt hàng thế mạnh

của Việt Nam như sản phẩm dệt may, gạo, sợi và cáp điện, clanhke,

phân bón các loại, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, linh kiện, máy

vi tính, công nghệ chế biến hạt điều. Ngược lại, đây cũng là thị trường

mà Việt Nam có thể tăng cường nhập khẩu một số nguyên liệu đầu vào

với giá cả hợp lí như bông, gỗ tếch, hạt điều phục vụ hoạt động chế biến,

xuất khẩu.122

 

Những năm gần đây, Tanzania được IMF, WB và các nước tài trợ giúp

về tài chính để cải thiện cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế. Các cuộc cải cách

trong hệ thống ngân hàng giúp Tanzania thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng

trưởng trong lĩnh vực tư nhân. Với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ và các chính

sách kinh tế vĩ mô chắc chắn, nền kinh tế Tanzania có những bước tiến đáng

kể, tỷ lệ tăng trưởng thuộc nhóm nước cao nhất thế giới, đời sống nhân dân

được cải thiện, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá ngày một gia tăng.

Mặt khác, Tanzania là thị trường chưa đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe

về chất lượng sản phẩm hay về mẫu mã, vệ sinh, hàng rào kỹ thuật như

tại các quốc gia khu vực thị trường khác.

2.6. Algeria

Algeria là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam tại Châu Phi

sau Nam Phi, Ai Cập. Kim ngạch thương mại hai chiều đạt 284,6 triệu

USD, tăng 3,9% so với năm 2016. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang

Algeria khoảng 280,9 triệu USD, tăng 3,5% so với năm trước. Các mặt

hàng xuất khẩu chính gồm: cà phê, điện thoại và linh kiện, gạo, sản phẩm

sắt thép, hạt tiêu, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, thủy sản…

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Algeria chỉ đạt 3,7 triệu USD

với các mặt hàng giấy phế liệu, dược phẩm, thức ăn gia súc và nguyên liệu

và một số hàng hóa khác. Việt Nam tiếp tục xuất siêu gần như tuyệt đối

sang Algeria.

– Chính sách quản lý xuất nhập khẩu:

Algeria áp dụng việc cấp giấy phép và hạn ngạch xuất nhập khẩu đối

với hàng hóa; nhằm mục đích quản lý chặt chẽ xuất nhập khẩu, nguồn tài

nguyên, cân bằng cán cân thanh toán, quản lý nguyên liệu sản xuất, tiêu

dùng, … Đây cũng là biện pháp quản lý hành chính đối với hoạt động xuất

nhập khẩu.

Để quản lý thanh toán hàng nhập khẩu, Algeria quy định bắt buộc

các doanh nghiệp phải kê khai qua mạng (theo trang web của ngân

hàng) và phải được ngân hàng xét duyệt trước khi thanh toán. Đối với

các lô hàng thanh toán bằng phương thức nhờ thu (D/P hoặc CAD), Algeria quy định nhà nhập khẩu phải trình giấy báo hàng đến cảng mới

được thanh toán.

2.7. Bờ Biển Ngà

Bờ Biển Ngà là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt

Nam ở Châu Phi. Trong giai đoạn 2012-2017, tổng kim ngạch trao đổi

thương mại giữa hai nước có sự tăng trưởng mạnh, từ 310 triệu USD

năm 2012 lên hơn 1 tỷ USD năm 2016. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu

sang Bờ Biển Ngà đạt 126,2 triệu USD và nhập khẩu từ thị trường này

đạt 892 triệu USD.123

 

Về cơ cấu hàng hóa, các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang

Bờ Biển Ngà bao gồm gạo (chiếm 70,9% tổng kim ngạch xuất khẩu), giày

dép, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, thủy sản. Bờ Biển Ngà là nước

cung cấp các nguyên liệu đầu vào quan trọng cho Việt Nam, chủ yếu là hạt

điều thô (chiếm tới 93% tổng giá trị nhập khẩu) và bông.

  1. THỊ TRƯỜNG CHÂU ĐẠI DƯƠNG
  2. Tình hình xuất nhập khẩu chung

Trong năm 2017, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các thị

trường khu vực Châu Đại Dương đạt 7,4 tỷ USD tăng 22,7% so với năm

  1. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này đạt 3,8 tỷ USD,

tăng 16,5% so với năm 2016 và nhập khẩu từ khu vực này đạt 3,6 tỷ USD,

tăng 29,9%.

  1. Xuất nhập khẩu với một số thị trường quan trọng

2.1. Australia

Trong năm 2017, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Australia

đạt 6,46 tỷ USD, tăng 22,2% so với năm 2016. Trong đó, xuất khẩu của

Việt Nam sang Australia đạt xấp xỉ 3,3 tỷ USD, tăng 15,1%. Nhập khẩu

của Việt Nam từ Australia đạt 3,17 tỷ USD, tăng 30,5%.

Về xuất khẩu, các mặt hàng xuất khẩu quan trọng sang thị trường

Australia đều có mức tăng trưởng khá tích cực, gồm: điện thoại và linh

kiện (618,5 triệu USD, tăng 7,8%), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh

kiện (397 triệu USD, tăng 14,3%), giày dép (225 triệu USD, tăng 7,7%),

dệt may, hạt điều, cà phê, hạt tiêu. Các mặt hàng vẫn còn tiềm năng xuất

khẩu sang Australia mặc dù hiện nay kim ngạch chưa cao gồm: nông sản

(hoa quả tươi), thủy sản, giày dép, hàng dệt may, máy vi tính và linh kiện,

máy móc, thiết bị và phụ tùng,…

Về nhập khẩu, các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Australia chủ yếu

là các mặt hàng phục vụ sản xuất công nghiệp và ngành năng lượng trong

nước. Năm 2017 các mặt hàng này có sự tăng trưởng mạnh như kim loại

thường khác (628 triệu USD tăng 30,6%), than đá (469,7 triệu USD, tăng

45%), ngoài ra có lúa mỳ (424 triệu USD, tăng 10,3%) và bông (296 triệu

USD, tăng 64,3%).

2.2. New Zealand

Năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – New Zealand

đạt 907,6 triệu USD, tăng 26,6% so với năm 2016.

Trong đó, xuất khẩu sang New Zealand đạt 458,6 triệu USD, tăng

27,4%. Động lực tăng trưởng nằm ở các mặt hàng như: cà phê (đạt 2,36124

 

triệu USD, tăng 61,1%), điện thoại và linh kiện (đạt 168,4 triệu USD,

tăng 41,2%), hạt điều (đạt 28,7 triệu USD, tăng 36,3%), dệt may (đạt 19,4

triệu USD, tăng 18,8%), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (đạt

56,2 triệu USD, tăng 38,9%), sản phẩm chất dẻo (đạt 11,2 triệu USD, tăng

21,7%), máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (đạt 29,6 triệu USD,

tăng 180,5%).

Nhập khẩu từ New Zealand đạt 449 triệu USD, tăng 25,8% so với năm

  1. Nguyên nhân là do một số mặt hàng có sự tăng trưởng mạnh như:

phế liệu sắt thép (đạt 26,5 triệu USD, tăng 145,5%); gỗ và sản phẩm gỗ

(đạt 60,7 triệu USD, tăng 8,4%); sắt thép (đạt 6,25 triệu USD, tăng 82,1%);

sữa và sản phẩm sữa (đạt 232,8 triệu USD, tăng 26,2%); rau quả (đạt 31

triệu USD, tăng 41,6%).

Các mặt hàng có nhiều tiềm năng xuất khẩu sang New Zealand là: cà

phê (cà phê hạt, cà phê chế biến); hạt điều; dệt may; giày dép; tôm đông

lạnh, cá tra fillet đông lạnh. Hiện Việt Nam là nhà cung cấp tôm đông lạnh

lớn nhất cho New Zealand, xếp trên Trung Quốc và Thái Lan.

Hàng hóa xuất khẩu sang New Zealand phải chịu chi phí vận chuyển

cao do có khoảng cách địa lý xa, vận chuyển hàng hoá đường biển phải

trung chuyển qua nước thứ ba, do vậy khó cạnh tranh về giá so với các sản

phẩm rẻ hơn của Trung Quốc, Ấn Độ.

Điều kiện trao đổi đoàn doanh nghiệp, các cơ hội tiếp xúc trực tiếp để

mở rộng hiểu biết về thị trường, khách hàng còn hạn chế. Cùng với quy

định chặt chẽ về chất lượng hàng hóa của thị trường, doanh nghiệp Việt

Nam vẫn còn có tâm lý e ngại trong việc sang khảo sát, thâm nhập thị

trường New Zealand.

2.3. Chính sách quản lý nhập khẩu của Australia và New Zealand

Australia và New Zealand là hai quốc gia đặt ra nhiều quy định kiểm

dịch hết sức khắt khe và chặt chẽ đối với các mặt hàng nông thủy sản của

Việt Nam.

Đối với mặt hàng tôm tươi và tôm đông lạnh, là thế mạnh của tôm Việt

Nam hiện nay gặp nhiều khó khăn về hàng rào kỹ thuật của Australia như

hàng rào kỹ thuật kiểm dịch virus đốm trắng (white spot) và đầu vàng

(yellow head), hoặc dự luật dán nhãn xuất xứ trong thực đơn nhà hàng, dự

luật cảnh báo thực phẩm nhập khẩu.

Đối với mặt hàng nông sản, đặc biệt là rau quả trái cây như quả vải,

các yêu cầu về nhập khẩu do các thị trường Australia và New Zealand đặt

ra vẫn rất cao và chặt chẽ, do đó năng lực của các doanh nghiệp xuất khẩu

trong nước còn nhiều hạn chế về kỹ thuật nên khó thực hiện được các khâu

xử lý (như chiếu xạ), chế biến theo chuẩn của Australia và New Zealand

đặt ra, vì vậy chưa đáp ứng được các điều kiện nhập khẩu cao của hai thị

trường này.125

 

Các mặt hàng nông, lâm, thủy sản nhập khẩu vào thị trường New

Zealand đều phải qua giám định chất lượng rất chặt chẽ. Cho đến nay,

New Zealand mới cấp phép nhập khẩu cho quả xoài (2011) và thanh long

(2013). Các mặt hàng thanh long, cá tra không có đối thủ cạnh tranh tại

thị trường New Zealand tuy nhiên đây là những mặt hàng chưa phổ biến

đối với người tiêu dùng nên còn hạn chế về tiêu thụ.

Ngoài ra, dung lượng thị trường New Zealand nhỏ, đặc biệt là các hàng

nông sản qua chế biến như sản phẩm từ gạo, rau quả khô, đông lạnh, đồ

hộp… còn Australia là nước nông nghiệp phát triển, ưa chuộng các sản

phẩm organic nên việc mở rộng thị phần xuất khẩu hàng nông sản sang

Australia ít có tiềm năng. Bên cạnh đó, Việt Nam gặp nhiều khó khăn và

sự cạnh tranh lớn từ các đối thủ nước ngoài tại về mẫu mã, chất lượng và

độ phong phú về chủng loại.

Một số thông tin cụ thể:

(i) Australia tạm ngừng nhập khẩu tôm chưa nấu chín

Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia đã áp dụng lệnh tạm

ngừng nhập khẩu đối với mặt hàng tôm chưa nấu chín (do dịch bệnh đốm

trắng bùng phát tại Australia) trong thời gian từ ngày 9/1/2017 đến ngày

7/7/2017.

Trong năm 2017, Bộ Công Thương đã tích cực phối hợp với Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức làm việc với các cơ quan hữu

quan của phía Australia để phản đối và đề nghị phía Australia dỡ bỏ

lệnh tạm ngừng nhập khẩu tôm chưa nấu chín. Trước phản ứng mạnh

mẽ của phía Việt Nam, Australia đã chính thức chấm dứt lệnh tạm

ngừng nhập khẩu nói trên từ ngày 7/7/2017 và thông báo điều kiện

nhập khẩu mới chặt chẽ hơn trước. Hai Bên đã tích cực phối hợp về kỹ126

 

thuật để nối lại hoạt động thương mại an toàn đối với tôm và các sản

phẩm tôm chưa nấu chín.

(ii) Xuất khẩu trái cây tươi sang Australia

Rau quả được nhập khẩu vào Australia phải trải qua Quy trình Phân

tích rủi ro nhập khẩu do Cơ quan An toàn sinh học Australia tiến hành.

Tính tới nay, Việt Nam có 3 mặt hàng trái cây tươi được phép nhập khẩu

vào thị trường Australia: quả vải (tháng 5/2015), quả xoài (tháng 9/2016),

quả thanh long (ngày 24/8/2017).

(iii) Xuất khẩu trái cây tươi sang New Zealand

Đối với mặt hàng trái cây xuất khẩu sang New Zealand, thì đây không

phải là thị trường mà Việt Nam kỳ vọng xuất khẩu được nhiều, vì New

Zealand là nước mạnh về nông nghiệp và là một thị trường khó tính bậc

nhất thế giới, nhưng nếu được New Zealand chấp nhận, trái cây Việt Nam

sẽ dễ dàng xuất khẩu sang nhiều thị trường tiềm năng khác.

Mặt hàng trái cây tươi muốn nhập khẩu vào New Zealand phải thông

qua Tiêu chuẩn về An toàn cho Sức khỏe trong hoạt động nhập khẩu

(Import Health Standard – IHS). Cho đến nay, New Zealand mới cấp phép

nhập khẩu cho quả xoài (2011) và thanh long (2013) của Việt Nam.

Năm 2016, Việt Nam đã tiến hành các thủ tục đề xuất mặt hàng

chôm chôm Việt Nam được thông qua bởi IHS nhằm xuất khẩu mặt

hàng này sang New Zealand. Hiện nay, chôm chôm Việt Nam đã kết

thúc phần đánh giá an toàn hàng nhập khẩu và đang trong thời gian

đàm phán kế hoạch nhập khẩu giữa Bộ Nông nghiệp hai nước, hy vọng

Việt Nam sẽ sớm bắt đầu xuất khẩu được mặt hàng này sang New Zealand từ năm 2018. Sau mặt hàng chôm chôm, phía Việt Nam sẽ nộp hồ

sơ tiếp cho các mặt hàng nhãn, vú sữa, bưởi để xuất khẩu sang New

Zealand trong thời gian tới.127

 

CHƯƠNG V:

CHÍNH SÁCH, CƠ CHẾXUẤ T NHẬP KHẨU

 

  1. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XUẤT NHẬP KHẨU
  2. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xuất nhập khẩu

năm 2017

Trong năm 2017, nhiều văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) liên

quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ

sung để phù hợp với thực tiễn cũng như yêu cầu quản lý của nhà nước, cụ

thể:

1.1. Luật

– Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 ngày 19/6/2017.

– Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 ngày 12/6/2017.

– Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 14/2017/

QH14 ngày 20/6/2017.

1.2. Nghị định

– Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 4/4/2017 của Chính phủ về quản

lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản.

– Nghị định số 40/2017/NĐ-CP ngày 5/4/2017 của Chính phủ về quản

lý sản xuất, kinh doanh muối.

– Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 8/5/2017 của Chính phủ quy định

chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật dược.

– Nghị định số 55/2017/NĐ-CP ngày 9/5/2017 của Chính phủ về quản

lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra.

– Nghị định số 66/2017/NĐ-CP ngày 19/5/2017 của Chính phủ quy định

điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi

hình, định vị.

– Nghị định số 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh

doanh rượu.

– Nghị định số 106/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ sửa

đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng

9 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi

hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá.

– Nghị định số 108/2017/NĐ-CP ngày 20/9/2017 của Chính phủ về quản

lý phân bón.

– Nghị định số 116/2017/NĐ-CP ngày 17/10/2017 của Chính phủ quy

định điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo

hành, bảo dưỡng ô tô.

– Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy

định về kinh doanh dịch vụ logistics.

1.3. Thông tư

– Thông tư số 01/2017/TT-BCT ngày 24/1/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương quy định việc áp dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá

nguyên liệu và trứng gia cầm có xuất xứ từ các nước thành viên của Liên

minh Kinh tế Á Âu năm 2017, 2018 và 2019.

– Thông tư số 03/2017/TT-BCT ngày 3/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương quy định về nguyên tắc điều hành hạn ngạch thuế quan nhập

khẩu đối với mặt hàng muối, trứng gia cầm năm 2017.

– Thông tư số 04/2017/TT-BCT ngày 9/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương sửa đổi, bổ sung Thông tư số 20/2011/TT-BCT ngày 12 tháng 5

năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định bổ sung thủ tục nhập

khẩu xe ô tô chở người loại từ 09 chỗ ngồi trở xuống.

– Thông tư số 05/2017/TT-BCT ngày 21/4/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương quy định về đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm

2017.

– Thông tư số 06/2017/TT-BCT ngày 25/5/2017 sửa đổi, bổ sung Thông

tư số 22/2009/TT-BCT ngày 04 tháng 8 năm 2009 của Bộ Công Thương quy

định về quá cảnh hàng hóa của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào qua

lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

– Thông tư số 07/2017/TT-BCT ngày 29/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương quy định cửa khẩu nhập khẩu một số mặt hàng phân bón.

– Thông tư số 11/2017/TT-BCT ngày 28/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương quy định về hoạt động tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập và

chuyển khẩu hàng hóa.

– Thông tư số 14/2017/TT-BCT ngày 28/8/2017 bãi bỏ Thông tư số

12/2015/TT-BCT ngày 12 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Công Thương

quy định việc áp dụng chế độ cấp Giấy phép nhập khẩu tự động đối với một

số sản phẩm thép.

– Thông tư số 25/2017/TT-BCT ngày 29/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương quy định việc nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo hạn ngạch thuế

quan năm 2018.

– Thông tư số 21/2017/TT-BCT ngày 23/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng

formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản

phẩm dệt may.

– Thông tư số 27/2017/TT-BCT ngày 6/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 28/2015/TT-BCT

ngày 20 tháng 8 năm 2015 của Bộ Công Thương quy định việc thực hiện thí

điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng

hóa ASEAN.130

 

– Thông tư số 28/2017/TT-BCT ngày 8/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công

Thương sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số Thông tư trong lĩnh vực kinh doanh

xăng dầu, kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và xuất nhập khẩu

thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

– Thông tư số 15/2017/TT-NHNN ngày 5/10/2017 của Thống đốc Ngân

hàng nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số

18/2014/TT-NHNN ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Thống đốc Ngân hàng

Việt Nam hướng dẫn hoạt động nhập khẩu hàng hóa thuộc diện quản lý

chuyên ngành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

– Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

– Thông tư số 09/2017/TT-BXD ngày 5/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Xây

dựng hướng dẫn xuất khẩu vôi, đôlômit nung.

– Thông tư số 40/2017/TT-BQP ngày 23/2/2017 của Bộ trưởng Bộ Quốc

phòng công bố danh mục cụ thể hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu

thuộc diện quản lý chuyên ngành của Bộ Quốc phòng theo quy định tại Nghị

định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.

– Thông tư số 01/2017/TT-BNNPTNT ngày 16/1/2017 của Bộ trưởng Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung Danh mục hóa chất, kháng

sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn

nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam.

  1. Một số điểm mới của Luật Quản lý ngoại thương

Ngày 12/6/2017, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Quản lý ngoại

thương, có hiệu lực từ ngày 1/1/2018.

Luật Quản lý ngoại thương điều chỉnh bao quát các công cụ quản lý ngoại

thương, hướng tới mục tiêu ổn định, minh bạch, thống nhất, đáp ứng yêu cầu

hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước về

ngoại thương thuận lợi, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Luật Quản lý ngoại thương được xây dựng trên nguyên tắc đẩy mạnh

cải cách thủ tục hành chính, khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển

hoạt động ngoại thương của thương nhân và tính cạnh tranh của nền kinh

tế; hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp lý về các biện pháp phòng vệ thương

mại, hỗ trợ ngoại thương để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt

Nam, doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Luật điều chỉnh chủ yếu công tác quản lý nhà nước về ngoại thương

bao gồm: các biện pháp quản lý, điều hành hoạt động ngoại thương có liên

quan đến mua bán hàng hóa quốc tế; không điều chỉnh, can thiệp vào các

hoạt động cụ thể của thương nhân, giữa các thương nhân với nhau; chỉ điều

chỉnh đối tượng là hàng hóa, không điều chỉnh đối tượng dịch vụ.

Luật Quản lý ngoại thương quy định một số nội dung cơ bản như sau:

(i) Về quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu và trách nhiệm

quản lý nhà nước về ngoại thương

Luật khẳng định quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của

thương nhân chỉ bị hạn chế nếu thuộc các trường hợp mà Luật quy định biện

pháp cấm, tạm ngừng hoặc hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu. Đối với thương

nhân là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thương nhân nước ngoài

không có hiện diện tại Việt Nam, Luật quy định quyền, nghĩa vụ của các đối

tượng này theo đúng các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là

thành viên. Việc quy định quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu tại

Luật là phù hợp với tinh thần Hiến pháp, phù hợp với tinh thần tiến bộ của

Luật Đầu tư và Điều 7 Luật Doanh nghiệp.

Về trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương, Luật quy

định các nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương theo đó

giao nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho Bộ Công Thương, các bộ, chính quyền

địa phương phù hợp với các biện pháp quản lý quy định trong Luật này và

theo nguyên tắc “một biện pháp do một cơ quan đầu mối phụ trách.”

(ii) Các biện pháp hành chính

Theo quy định tại Luật Quản lý ngoại thương, các biện pháp mang tính

hạn chế quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu được quy định nhằm

đảm bảo lợi ích công cộng, an ninh quốc phòng hoặc phù hợp cam kết quốc

tế… phải thực hiện theo những nguyên tắc xác định trong Luật và chỉ được

áp dụng đối với danh mục hàng hóa cụ thể. Những hàng hóa ngoài các danh

mục này được tự do xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể các biện pháp bao gồm:

các biện pháp cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm

ngừng nhập khẩu; các biện pháp hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu (gồm hạn

ngạch, hạn ngạch thuế quan, chỉ định cửa khẩu, chỉ định thương nhân xuất

khẩu, nhập khẩu); các biện pháp quản lý theo giấy phép, điều kiện.

Quản lý hàng hóa đối với khu vực hải quan riêng: Luật phân định rõ

quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu giữa nội địa với các khu vực hải quan riêng,

giữa các khu vực hải quan riêng với nhau cũng như giữa khu vực hải quan

riêng với bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là trong cải cách thủ tục

hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để thúc đẩy giao lưu

thương mại, đầu tư.

Điểm mới của Luật là quy định chỉ áp dụng một lần các biện pháp quản

lý ngoại thương đối với khu hải quan riêng. Quy định như trên giúp giảm

thiểu thủ tục hành chính cho cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong các

khu vực hải quan riêng, đồng thời tận dụng được lợi thế của các khu này

nhất là các khu kinh tế cửa khẩu hoặc khu kinh tế biển nơi có cửa khẩu,

cảng biển thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa là nguồn

nguyên liệu cần thiết phục vụ sản xuất.

(iii) Quản lý hoạt động ngoại thương với các nước có chung biên giới:

Luật quy định khung khổ pháp lý chung về đối tượng, hoạt động, địa

điểm, phương thức và chính sách ưu đãi, đặc thù của hoạt động thương

mại biên giới và nguyên tắc phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong hoạt động thương mại biên

giới, đồng thời quy định về điều hành, phối hợp quản lý hoạt động

thương mại biên giới tại cửa khẩu biên giới đất liền; chính sách phát

triển các hoạt động hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu để tạo điều kiện

thuận lợi, thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập

cảnh người, phương tiện vận tải qua các cửa khẩu biên giới đất liền và

phát triển du lịch.

(iv) Các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch

Luật Quản lý ngoại thương quy định mục tiêu áp dụng và kiểm tra

hàng hóa đáp ứng yêu cầu của các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch nhằm

thực hiện mục tiêu hệ thống hóa, pháp điển hóa, minh bạch hóa các quy

định của pháp luật, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong hoạt động

sản xuất, kinh doanh.

Điểm mới là Luật đã quy định nguyên tắc tạo thuận lợi cho hàng hóa

xuất khẩu, quản lý rủi ro trong thực hiện các biện pháp và kiểm tra chuyên

ngành; phân định rõ các nhóm hàng hóa với việc áp dụng các biện pháp

kỹ thuật, kiểm dịch cụ thể, đảm bảo mức độ phù hợp, hài hòa giữa quản lý

nhập khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước và thúc đẩy xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Luật đã quy định hoạt động kiểm tra chuyên ngành, trong

đó quy định cụ thể đối tượng kiểm tra, cơ quan tiến hành kiểm tra và trách

nhiệm của các cơ quan kiểm tra để thống nhất về cơ sở pháp lý, đối tượng,

nguyên tắc, trách nhiệm của các Bộ, ngành trong thực hiện kiểm tra đối

với hoạt động kiểm tra chuyên ngành đang được quy định rải rác tại nhiều

văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.

(v) Các biện pháp phòng vệ thương mại

Luật Quản lý ngoại thương pháp điển hóa, sửa đổi, bổ sung các nội

dung cơ bản của 3 Pháp lệnh về phòng vệ thương mại đồng thời bổ sung

nội dung mới về chống lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại, ứng

phó với vụ việc do nước ngoài khởi xướng nhằm phù hợp với thông lệ quốc

tế và đáp ứng yêu cầu quản lý trên thực tiễn, đảm bảo hiệu quả thực thi

của các biện pháp này.

(vi) Kiểm soát khẩn cấp trong hoạt động ngoại thương

Luật Quản lý ngoại thương quy định cụ thể một số trường hợp chính

cần có sự can thiệp khẩn cấp đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng

hóa từ một hoặc một số đối tác thương mại xuất phát từ yếu tố khách quan

hoặc chủ quan.

(vii) Các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương

Luật Quản lý ngoại thương quy định về chính sách phát triển hoạt

động ngoại thương như một trong những công cụ quản lý nhà nước quan

trọng nhằm hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động ngoại thương theo cả hai chiều xuất

khẩu và nhập khẩu. Theo đó, Nhà nước thúc đẩy phát triển hoạt động

ngoại thương thông qua các biện pháp như: các biện pháp tín dụng, xúc

tiến thương mại và các hoạt động hỗ trợ phát triển khác, với trọng điểm là

xúc tiến thương mại.

Luật cũng quy định một số chính sách đặc thù trong phát triển ngoại

thương đối với sản phẩm có lợi thế cạnh tranh mà trong nước sản xuất

được cũng như các sản phẩm công nghệ và nguyên liệu đầu vào cần

thiết phục vụ sản xuất trong nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các

vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, biên giới, hải

đảo, các vùng có điều kiện địa lý – kinh tế khó khăn tham gia hoạt động

ngoại thương.

(viii) Giải quyết tranh chấp

Luật Quản lý ngoại thương quy định nguyên tắc giải quyết tranh chấp

trong lĩnh vực ngoại thương có liên quan đến cơ quan của Chính phủ. Theo

đó, nguyên tắc chung là các vụ việc có tranh chấp giữa doanh nghiệp (kể

cả doanh nghiệp Nhà nước) phải được giải quyết theo thỏa thuận của các

bên cũng như theo quy định trong tố tụng dân sự. Chính phủ chỉ tham

gia giải quyết tranh chấp trong trường hợp liên quan đến lợi ích quốc gia,

trong quan hệ giữa Chính phủ với Chính phủ theo các quy định của pháp

luật quốc tế.

Luật đã có những quy định hoàn toàn mới nêu rõ trình tự, thủ tục cũng

như trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc xây dựng phương án giải

quyết tranh chấp quốc tế trong cả hai trường hợp, bao gồm việc Việt Nam

bảo vệ lợi ích của mình khi bị các nước khởi kiện và việc Việt Nam chủ động

khởi kiện các nước khi họ vi phạm những nghĩa vụ, cam kết gây xâm hại

đến lợi ích của Việt Nam.

Căn cứ các điều, khoản mà Luật Quản lý ngoại thương giao Chính phủ

quy định chi tiết, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì xây

dựng và trình Chính phủ ban hành 5 Nghị định quy định chi tiết Luật

Quản lý ngoại thương, gồm:

– Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương

(Nghị định thay thế Nghị định số 187/2013/NĐ-CP).

– Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương

về xuất xứ hàng hóa.

– Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương

về hỗ trợ hoạt động ngoại thương.

– Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương

về các biện pháp phòng vệ thương mại.

– Nghị định quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới.

Bộ Công Thương đã trình Chính phủ dự thảo các Nghị định trong năm

2017 để ban hành trong đầu năm 2018.

  1. THUẬN LỢI HÓA THƯƠNG MẠI
  2. Cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Năm 2017, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã tích cực triển khai thực hiện

các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ

cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng

cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra chuyên ngành.

Riêng trong các lĩnh vực của ngành Công Thương, trong năm 2017 đã

có nhiều biện pháp được triển khai đồng bộ, theo đó, rà soát, sửa đổi các

văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chuyên ngành, thực hiện đơn giản

hóa thủ tục hành chính, hoàn thiện, chỉnh sửa các văn bản liên quan đến

kiểm tra chuyên ngành thuộc lĩnh vực phụ trách, cụ thể:

1.1. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư

kinh doanh

Bộ Công Thương đã tiến hành rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm

pháp luật về quản lý chuyên ngành, thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành

chính, hoàn thiện, chỉnh sửa các văn bản liên quan đến kiểm tra chuyên

ngành thuộc lĩnh vực của mình theo hướng giảm các loại giấy tờ hoặc

chuyển sang thủ tục mang tính tự động hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi

tối đa cho doanh nghiệp và triển khai thực hiện đúng thời hạn các nhiệm

vụ được giao tại Nghị quyết số 19/NQ-CP.

Triển khai Phương án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính trong

lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương năm 2017, đến nay, Bộ đã

thực hiện rà soát, đơn giản hóa đối với 183 thủ tục hành chính, gồm: bãi bỏ

49 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 134 thủ tục hành chính.

Ngày 20/9/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3610a/

QĐ-BCT ban hành phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư,

kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương giai

đoạn 2017-2018. Theo đó, 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh được cắt giảm,

chiếm tới 55,5% tổng các điều kiện đầu tư kinh doanh hiện trong 16 ngành,

nghề thuộc Phụ lục IV Luật Đầu tư thuộc phạm vi quản lý nhà nước của

Bộ Công Thương.

1.2. Nâng cao năng lực dịch vụ công trực tuyến

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 36a về Chính phủ điện135

 

tử, Nghị quyết 19/NQ-CP về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng

cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ phát

triển doanh nghiệp đến năm 2020, Bộ Công Thương đã chủ động, quyết

liệt, ban hành nhiều chính sách nhằm cải cách hành chính, đẩy mạnh ứng

dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến

ở mức độ 3 và mức độ 4, đặc biệt là đối với các thủ tục hành chính thuộc

lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Cụ thể, Bộ Công Thương đã liên tục cải tiến quy trình cấp phép, nâng

cấp hệ thống điện tử, với mục tiêu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong

việc khai báo, giảm thiểu thời gian xử lý và cấp phép hồ sơ, giúp giảm thiểu

được thời gian, chi phí, giấy tờ, hồ sơ trong quá trình làm thủ tục.

Đến hết năm 2017, Bộ Công Thương đã triển khai 47 dịch vụ công trực

tuyến trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ở cấp độ 3 và 4 trên Cổng dịch vụ

công trực tuyến Bộ Công Thương tại địa chỉ http://online.moit.gov.vn.

Đây đều là những thủ tục hành chính có số lượng hồ sơ nhiều, ảnh hưởng

lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong năm 2017, số lượng hồ sơ xuất nhập khẩu được xử lý trực tuyến

là 852.597 bộ hồ sơ, đạt tỷ lệ 97% tổng số hồ sơ. Trong đó, một số dịch vụ

công trực tuyến xuất nhập khẩu tiêu biểu của Bộ như:

– Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa: 806.137 bộ hồ sơ.

– Cấp Giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số sản phẩm thép:

9.000 bộ hồ sơ.

– Khai báo hóa chất nhập khẩu: 36.688 hồ sơ.

Việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến xuất nhập khẩu bên cạnh

việc xuất phát từ nhu cầu nội tại về phát triển kinh tế, tạo thuận lợi cho

môi trường đầu tư và kinh doanh trong nước, còn cho thấy cố gắng của Bộ

Công Thương đối với các cam kết hội nhập khu vực, nâng cao vị thế của

quốc gia, tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế.

1.3. Cơ chế Một cửa Quốc gia, Cơ chế Một cửa ASEAN

Thời gian qua, Bộ Công Thương và Tổng cục Hải quan đã phối hợp triển

khai việc đưa các thủ tục hành chính của Bộ Công Thương áp dụng Cơ chế

Một cửa Quốc gia theo Thông tư liên tịch số 89/2016/TTLT-BTC-BCT ngày

23/6 /2016 của liên Bộ Tài chính – Công Thương, cụ thể là từ năm 2016 đã xây

dựng và đưa vào hoạt động 05 thủ tục hành chính với hiệu quả tốt, gồm:

(i) Thủ tục cấp giấy phép xuất nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp;

(ii) Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu các chất làm suy giảm tầng

ô-zôn;

(iii) Thủ tục cấp giấy chứng nhận quy trình Kimberley đối với kim

cương thô;136

 

(iv) Thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ mẫu D;

(v) Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu tự động mô-tô phân khối lớn.

Điển hình là đối với thủ tục Cấp giấy phép chứng nhận xuất xứ mẫu

D (C/O mẫu D), Bộ Công Thương đã tích cực phối hợp với Tổng cục Hải

quan theo chỉ đạo của Chính phủ, nâng cấp hạ tầng và hệ thống, đã kết

nối kỹ thuật thành công với Cơ chế một cửa ASEAN (ASW) với các nước:

Indonesia, Singapore, Malaysia, Thái Lan đúng với kế hoạch, tạo điều kiện

thuận lợi cho việc xuất khẩu của hàng hóa của Việt Nam vào thị trường

ASEAN, đồng thời tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi thông tin và dữ liệu

liên quan đến việc cấp và kiểm tra xuất xứ giữa Bộ Công Thương với các

Bộ ngành liên quan.

Sau giai đoạn kết nối kỹ thuật, Việt Nam sẽ chính thức trao đổi C/O

mẫu D điện tử với các nước Indonesia, Malaysia và Thái Lan. C/O mẫu D

do Bộ Công Thương cấp phép là chứng từ thương mại đầu tiên của Việt

Nam được trao đổi dưới dạng điện tử đến Cơ chế một cửa ASEAN, tạo tiền

đề, đòn bẩy để Việt Nam tiếp tục trao đổi, xử lý trực tuyến các chứng từ

thương mại khác dưới dạng điện tử khác với các nước, khối – cộng đồng kinh

tế theo các thỏa thuận và cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Tiếp nối những kết quả đã đạt được, trong năm 2017, thực hiện Quyết

định số 2185/QĐ-TTg ngày 14/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc

phê duyệt Kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế Một cửa Quốc gia (VNSW)

và Cơ chế Một cửa ASEAN giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 1989/QĐ-

BCT ngày 05/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc phê duyệt Kế

hoạch triển khai VNSW và Cơ chế Một cửa ASEAN của Bộ Công Thương

giai đoạn 2017-2020, Bộ Công Thương đã và đang triển khai kết nối 6 thủ

tục hành chính mới với VNSW bao gồm:

(i) Thủ tục cấp giấy phép xuất nhập khẩu tiền chất vật liệu nổ công

nghiệp;

(ii) Thủ tục cấp giấy phép xuất nhập khẩu tiền chất sử dụng trong lĩnh

vực công nghiệp;

(iii) Thủ tục khai báo hóa chất nhập khẩu;

(iv) Thủ tục nhập khẩu thuốc lá nhằm mục đích phi thương mại;

(v) Thủ tục đề nghị cấp văn bản chấp thuận tham gia thí điểm tự chứng

nhận xuất xứ trong ASEAN;

(vi) Thủ tục thông báo chỉ tiêu nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá, giấy

cuốn điếu thuốc lá.

1.4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra chuyên

ngành

1.4.1. Giảm lượng hàng hóa thuộc diện kiểm tra trước thông quan137

 

Ngày 08/9/2016, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số

3648/QĐ-BCT công bố Danh mục sản phẩm hàng hóa nhập khẩu phải kiểm

tra việc bảo đảm chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật và an toàn thực phẩm

trước khi thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương, thay

thế cho Quyết định số 11039/QĐ-BCT ngày 3/12/2014.

Riêng với mặt hàng thép (đối tượng kiểm tra trước thông quan theo

Quyết định số 11039), Bộ Công Thương đã đề nghị và ngày 16/6/2017, Bộ

Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN

chuyển toàn bộ việc kiểm tra chất lượng các mặt hàng này sang hậu kiểm

kể từ ngày 1/10/2017 (doanh nghiệp chỉ còn phải đăng ký công bố chất

lượng tới cơ quan kiểm tra, trong 1 ngày sẽ được cấp giấy xác nhận để làm

thủ tục giải phóng lô hàng sau đó mới tiến hành việc kiểm tra theo công

bố của doanh nghiệp). Đồng thời, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư

18/2017/TT-BCT ngày 21/9/2017 bãi bỏ một số điều của Thông tư liên tịch

58/2015/TTLT-BCT-BKHCN quy định quản lý chất lượng sản phẩm thép.

Theo đó, việc quản lý chất lượng thép sẽ chỉ thực hiện theo Thông tư số

07/2017/TT-BKHCN.

Như vậy, Quyết định số 3648/QĐ-BCT và Thông tư 18/2017/TT-BCT

đã xóa bỏ rất nhiều mặt hàng phải kiểm tra trước thông quan thuộc trách

nhiệm quản lý của Bộ Công Thương (xóa bỏ khoảng 420 mã, còn khoảng

300 mã, đạt tỷ lệ xóa bỏ lên tới 58,3%). Hiện nay, trong phạm vi quản lý của

Bộ Công Thương, chỉ còn 2 loại sản phẩm phải kiểm tra trước thông quan

là tiền chất thuốc nổ và thực phẩm (bao gồm rượu, bia; sữa; dầu thực vật

và tinh bột. Đây là các sản phẩm bắt buộc phải kiểm tra trước thông quan

theo quy định của Luật An toàn thực phẩm).

Bộ Công Thương cũng đã ban hành Quyết định số 4755/QĐ-BCT ngày

21/12/2017, thay thế các Quyết định 3648/QĐ-BCT và Quyết định 5156/

QĐ-BCT ban hành danh mục sản phẩm hàng hóa phải thực hiện kiểm tra

chuyên ngành trước khi thông quan với mã HS cập nhật theo quy định tại

Thông tư 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 ban hành danh mục hàng hóa

xuất khẩu nhập khẩu Việt Nam.

1.4.2. Xã hội hóa công tác kiểm tra chuyên ngành

Bộ Công Thương đã thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác kiểm

tra chuyên ngành một cách triệt để. Cho đến nay, Bộ đã chỉ định 11 đơn

vị đủ điều kiện thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập

khẩu theo hình thức xã hội hóa. Thủ tục để được chỉ định là đơn vị đủ điều

kiện thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu cũng

đã được đơn giản hóa đến mức tối đa. Với vật liệu nổ công nghiệp, Bộ đã

chỉ định 2 tổ chức thử nghiệm có đầy đủ trang thiết bị và trình độ để đảm

nhiệm công việc kiểm tra nhà nước.

Đối với thủ tục dán nhãn tiết kiệm năng lượng, dù là thủ tục sau thông138

 

quan, Bộ cũng đã cho phép các tổ chức thử nghiệm trong nước và nước

ngoài (bao gồm cả tổ chức thử nghiệm độc lập và phòng thử nghiệm của

nhà sản xuất), nếu đáp ứng các điều kiện luật định, đều được tham gia

kiểm tra, đánh giá.

1.4.3. Áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để giảm tần suất kiểm tra

Bộ Công Thương đã áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để giảm tần

suất kiểm tra an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu thuộc trách

nhiệm quản lý của Bộ. Cụ thể là, với các sản phẩm (i) đã có dấu hợp quy;

hoặc (ii) có chất lượng đạt yêu cầu qua 2 lần kiểm tra liên tiếp; hoặc (iii)

cùng loại, cùng xuất xứ với mẫu chào hàng đã được xác nhận là đạt yêu cầu

nhập khẩu; hoặc (iv) đã được kiểm tra hoặc xác nhận chất lượng trước khi

nhập khẩu bởi 1 cơ quan nước ngoài được Việt Nam thừa nhận thì đều được

áp dụng phương thức kiểm tra giảm. Các lô hàng cùng loại, cùng xuất xứ,

nếu đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm qua 5 lần kiểm tra liên tiếp sẽ được

áp dụng phương thức chỉ kiểm tra hồ sơ, không lấy mẫu sản phẩm. Với mặt

hàng thép, khi còn thực hiện thủ tục kiểm tra trước thông quan, Bộ cũng

đã áp dụng các hình thức kiểm tra giảm và chỉ kiểm tra hồ sơ để giảm thời

gian thông quan và chi phí cho doanh nghiệp.

Để tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm thời gian kiểm tra

chuyên ngành, Bộ Công Thương đang xây dựng Thông tư sửa đổi một số

quy định về kiểm tra an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước

của Bộ Công Thương. Theo đó, dự kiến sẽ sửa đổi theo hướng chỉ kiểm tra

hồ sơ đối với các lô hàng cùng loại, cùng xuất xứ đã đạt yêu cầu về an toàn

thực phẩm qua 3 lần kiểm tra liên tiếp (trước đây là 5 lần). Trên tinh thần

chỉ kiểm tra các nhóm sản phẩm có nguy cơ cao không bảo đảm an toàn

thự phẩm, trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ cùng Bộ Y tế, Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng danh mục hàng hóa được miễn

kiểm tra hoặc áp dụng ngay hình thức kiểm tra hồ sơ.

  1. Nâng cao năng lực logistics

2.1. Tình hình phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, cùng với tốc

độ tăng trưởng của GDP, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất

nhập khẩu, trị giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, trong thời gian vừa qua dịch

vụ logistics có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, đạt 15-16%. Tỷ lệ doanh

nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt khoảng 30-35%.

Theo Chỉ số hoạt động logistics (LPI) của Ngân hàng Thế giới năm

2016, Việt Nam xếp hạng 64/160 nước, đứng thứ 4 trong các nước ASEAN,

sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Tổng chi phí logistics của Việt Nam

năm 2016 là 41,26 tỷ USD, tương đương 20,8% GDP.

Hiện nay, cả nước có khoảng 3.000 doanh nghiệp dịch vụ logistics, hoạt139

 

động trong các lĩnh vực từ vận tải đường bộ, đường sắt, đường biển, đường

thủy nội địa, đường hàng không cho đến giao nhận, kho bãi, đại lý hải

quan, giám định, kiểm nghiệm hàng hóa, bốc dỡ hàng hóa… và đảm nhận

một phần dịch vụ logistics quốc tế qua việc làm đại lý cho các doanh nghiệp

nước ngoài là các chủ hàng, chủ tàu, các nhà cung cấp dịch vụ logistics

quốc tế thuê lại.

Các doanh nghiệp chia thành 3 nhóm chính: doanh nghiệp có vốn nước

ngoài, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước (kể cả doanh

nghiệp cổ phần do nhà nước chi phối). Không kể nhóm doanh nghiệp có

vốn nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu hiện nay hoạt động ở

thị trường trong nước, có một số ít vươn ra đến thị trường khu vực. Doanh

nghiệp Việt Nam hiện đang nắm giữ nhiều cơ sở hạ tầng, tài sản phục vụ

hoạt động logistics (trung tâm logistics, kho bãi, cảng biển, cảng cạn, sân

bay, đường sắt, toa xe, xe tải…) nhưng hoạt động còn đơn lẻ, chỉ phục vụ ở

từng phân khúc nhất định, thiếu sự kết nối xuyên suốt để cung cấp dịch vụ

logistics tích hợp.

2.2. Về thể chế chính sách

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu hướng

toàn cầu hóa, các hoạt động logistics xuyên suốt từ sản xuất tới tiêu dùng

ngày càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của

các ngành sản xuất, dịch vụ và của toàn nền kinh tế nói chung.

Trên phương diện quốc tế, Việt Nam đã tham gia Hiệp định Tạo thuận

lợi thương mại (TFA) của WTO và Hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày

22/2/2017. Theo dự báo của các nhà kinh tế của WTO, việc triển khai đầy

đủ TFA sẽ cắt giảm trung bình 14,3% chi phí thương mại của các quốc gia

thành viên, trong đó các nước đang phát triển sẽ được lợi nhiều nhất.

Trong phạm vi quốc gia, năm 2017 đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ

trong việc hoàn thiện khung pháp lý và chính sách liên quan đến lĩnh vực

logistics của Việt Nam, trong đó, đặc biệt phải kể đến việc ban hành Quyết

định số 200/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 163/2017/

NĐ-CP của Chính phủ.

2.2.1. Quyết định số 200/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Để tận dụng các lợi thế, cơ hội và đưa logistics trở thành một ngành

kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp tích cực vào cải thiện năng lực

cạnh tranh chung của toàn nền kinh tế, ngày 14/2/2017, Thủ tướng Chính

phủ ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch hành

động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam

đến năm 2025. Theo đó, Kế hoạch đề ra 60 nhiệm vụ cụ thể thuộc 6 nhóm

nội dung với mục tiêu đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ

logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ

lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống140

 

tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo LPI trên thế giới đạt từ 50 trở

lên. Sau khi Quyết định 200/QĐ-TTg được ban hành, một số Bộ ngành, địa

phương, hiệp hội đã ban hành kế hoạch của riêng ngành, địa phương mình

để cụ thể hóa các nhiệm vụ nhằm phát triển dịch vụ logistics trong ngành

hoặc tại địa phương, phù hợp với điều kiện và đặc điểm phát triển kinh tế

– xã hội của ngành hoặc địa phương đó.

Với trách nhiệm đầu mối, trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã

hướng dẫn và đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương triển khai Quyết định của

Thủ tướng Chính phủ.

Trong khuôn khổ Diễn đàn Logistics Việt Nam lần thứ 5 tổ chức tại Hà

Nội ngày 15/12/2017, Bộ Công Thương đã công bố “Báo cáo Logistics Việt

Nam 2017” và khai trương trang thông tin điện tử www.logistics.gov.vn.

Đồng thời, đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương cũng chứng kiến lễ

ký kết các Biên bản ghi nhớ về hợp tác phát triển trong lĩnh vực logistics

giữa các đối tác là các doanh nghiệp, ngân hàng, hiệp hội, trường đại học.

2.2.2. Nghị định số 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ

Trong năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP

ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics thay thế Nghị

định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007. Nghị định có hiệu lực từ ngày

20/2/2018.

Việc ban hành Nghị định này sẽ tạo thuận lợi cho việc kinh doanh dịch

vụ logistics và đầu tư của nước ngoài vào ngành dịch vụ logistics, phù hợp

với tiến trình hội nhập của Việt Nam. So với Nghị định số 140/2007/NĐ-

CP, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP đã lược bỏ nhiều điều kiện kinh doanh

và thủ tục hành chính của các Bộ ngành, đồng thời, đơn giản hóa và ứng

dụng công nghệ thông tin để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, thương nhân kinh doanh các

dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics phải đáp ứng các điều kiện đầu tư,

kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó. Đối với thương

nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng

phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc

các mạng mở khác, ngoài việc đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với

các dịch vụ cụ thể, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

Về giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ

logistics, Nghị định giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương

nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức

thực hiện dịch vụ logistics theo quy định.

2.3. Về cơ sở hạ tầng

Kết cấu hạ tầng logistics đang được đầu tư phát triển mạnh mẽ. Quốc141

 

hội đã thông qua kế hoạch phát triển đường cao tốc Bắc – Nam theo từng

giai đoạn, phát triển sân bay quốc tế Long Thành. Việt Nam và Lào đã nhất

trí phát triển đường cao tốc Viên Chăn – Hà Nội, Việt Nam và Campuchia

đã thông qua kế hoạch xây dựng đường cao tốc Phnom Penh – Thành phố

Hồ Chí Minh, các tuyến đường này khi đi vào hoạt động sẽ tạo thuận lợi

cho vận tải xuyên biên giới trong khu vực. Năm 2018, cảng nước sâu Lạch

Huyện sẽ đi vào hoạt động, tạo nên một bước phát triển cho hàng hóa xuất

nhập khẩu khu vực phía Bắc.

Cùng với phát triển kết cấu hạ tầng, ngành Giao thông vận tải đang

thực hiện tái cơ cấu, đẩy mạnh vận tải biển, đường thủy nội địa và đường

sắt, giảm tải cho vận tải đường bộ, thúc đẩy mạnh mẽ vận tải đa phương

thức. Thị trường vận tải hàng hóa bằng đường không sẽ phát triển mạnh

mẽ trong thời gian tới.

Ngành công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện

thuận lợi cho việc áp dụng vào hoạt động logistics, thúc đẩy e-logistics, đặc

biệt là các dịch vụ giao hàng trong thương mại điện tử, vận chuyển hàng

xuất khẩu hoa quả và hàng đông lạnh.

Hệ thống thông tin hàng hóa xuất nhập khẩu được Tổng cục Hải quan

duy trì ổn định và tiến đến ứng dụng Hải quan điện tử, cơ chế Một cửa quốc

gia. Tuy vậy, nhu cầu kết nối với nhiều bên liên quan hơn, hệ thống Cổng

thông tin Một cửa quốc gia giữa cơ quan hải quan, thuế, cơ quan quản lý

chuyên ngành và người khai hải quan vẫn đang là một vấn đề cấp thiết.

2.4. Phát triển thị trường dịch vụ logistics

Thời gian qua, các doanh nghiệp dịch vụ logistics đẩy mạnh các hoạt động

hoạt động hợp tác quốc tế nhằm phát triển thị trường cho dịch vụ logistics.

Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam đã tổ chức 3 hội thảo về

vận tải xuyên biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào, Campuchia và

với các nước trong khu vực ASEAN. Nhằm mục đích phát triển thương mại

và vận tải hàng hóa quá cảnh, liên kết Việt Nam với Trung Quốc và các

nước trong khu vực GMS và ASEAN, hai nước đã khai trương tuyến vận

tải đường sắt liên vận bằng container, đồng thời các Hiệp hội Logistics của

hai bên đã ký kết văn bản hợp tác nhằm phát triển tuyến hành lang kết nối

khu vực. Việt Nam và Hồng Kông cũng ký văn bản cam kết thúc đẩy hợp tác

trong các lĩnh vực logistics hiện đại như thương mại điện tử B2B, đón đầu

việc ASEAN và Hồng Kông ký Hiệp định thương mại tự do.

Để mở rộng quy mô, một số doanh nghiệp Việt Nam đã tăng cường liên

doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và hợp tác với các công ty

logistics quốc tế. Bên cạnh việc đầu tư phát triển các trung tâm logistics,

hệ thống kho tổng hợp, kho lạnh và kho mát, một số doanh nghiệp tiến

hành các hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) để tăng vốn hoặc thu hút

nguồn vốn nước ngoài, cùng với đó là kinh nghiệm quản trị và nguồn khách142

 

hàng quốc tế để vươn ra các thị trường bên ngoài Việt Nam. Một số doanh

nghiệp bước đầu tìm cách đầu tư ra ngước ngoài thông qua việc mở văn

phòng đại diện ở các nước Lào, Campuchia và Myanmar, thành lập liên

doanh kinh doanh ICD tại Bỉ (Vinalines Logsitics). Tuy nhiên việc đầu tư

này còn hạn chế.

2.5. Đào tạo nguồn nhân lực cho logistics

Đào tạo nguồn nhân lực logistics chất lượng cao là yêu cầu cấp bách

hiện nay. Ngay sau khi có Quyết định 200, Bộ Lao động, Thương binh Xã

hội có Thông tư số 04/2017/TT-BLĐTBXH ngày 2/3/2017 cấp có mã ngành

đào tạo logistics cho trung cấp nghề và cao đẳng nghề; Bộ Giáo dục và Đào

tạo có Thông tư số 24/2017/TT-BGDĐT ngày 10/10/2017 ban hành Danh

mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ đại học, trong đó có mã ngành đào tạo

logistics và Thông tư số 25/2017/TT-BGDĐT ngày 10/10/2017 ban hành

Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV, trong đó có mã ngành logistics và quản

lý chuỗi cung ứng trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ.

Hoạt động đào tạo nhân lực cho ngành logistics hiện nay thực hiện ở

3 cấp độ: (i) đại học và trên đại học; (ii) cao đẳng và trung cấp nghề; (iii)

đào tạo nghề ngắn hạn. Ở cả 3 cấp độ trên, lực lượng giảng viên hiện còn

đang rất thiếu, đa số chuyển từ các ngành đào tạo khác sang giảng dạy về

logistics, thiếu giảng viên được đào tạo chuyên sâu về logistics. Giáo trình

về logistics hiện còn rải rác, nhiều nơi sử dụng nguyên giáo trình nước

ngoài, chưa có bộ giáo trình đầy đủ của Việt Nam trong lĩnh vực này. Cả

giảng viên và sinh viên, học viên đều thiếu cơ hội tiếp cận thực tế, đi thực

hành tại các cơ sở, doanh nghiệp dịch vụ logistics.

Một số trường đại học và cao đẳng, trung cấp nghề đã bước đầu thực hiện

liên kết trong việc đào tạo dài hạn và ngắn hạn nguồn nhân lực logistics

chất lượng cao, cùng xây dựng chương trình đào tạo cấp đại học và trên đại

học theo chương trình đào tạo quốc tế của Hiệp hội giao nhận vận tải quốc

tế (FIATA) và Hiệp hội giao nhận vận tải ASEAN (AFFA). Việc thống nhất

chuẩn đầu ra và tiến tới công nhận các học phần, tín chỉ của nhau cũng sẽ

giúp các cơ sở đào tạo nhanh chóng mở rộng và nâng cao chất lượng đào

tạo. Sự hình thành của Mạng lưới Đào tạo logistics Việt Nam sẽ góp phần

đẩy nhanh tiến trình này.

III. PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU

  1. Sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng hóa

thời kỳ 2011-2020, định hướng đến 2030

Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng

hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến 2030, Bộ Công Thương đã phối hợp

với các Bộ, ngành, địa phương đánh giá sơ kết tình hình thực hiện Chiến

lược và có báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào tháng 6/2017.143

 

Qua sơ kết việc thực hiện, có thể đánh giá những kết quả đạt được nổi

bật trong công tác triển khai các nhiệm vụ, giải pháp của các Bộ, ngành,

địa phương trong giai đoạn 2011-2016 như sau:

(i) Về cơ bản, các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Chiến lược và Chương

trình hành động được triển khai thực hiện nghiêm túc, phù hợp với định

hướng đề ra. Các Đề án thuộc Chương trình hành động được xây dựng,

thực hiện đúng tiến độ và bám sát mục tiêu, yêu cầu. Đối với những đề án

giao thoa, có nội dung lĩnh vực tương tự đã được điều chỉnh kịp thời. Các

giải pháp thực hiện Chiến lược đã và đang được Bộ, ngành, địa phương

triển khai tích cực. Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã

ban hành và triển khai Kế hoạch hành động của địa phương, trong đó đề

ra các mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu cụ thể và phương hướng, nhiệm vụ

theo 7 nhóm giải pháp được nêu trong Chiến lược phù hợp với tiềm năng

phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

(ii) Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện cơ

chế, chính sách thương mại, tài chính, tín dụng nhằm tạo môi trường

thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được chú

trọng thực hiện.

Luật Hải quan sửa đổi được thông qua vào năm 2014 tạo bước phát

triển mới về cơ sở pháp lý để ngành Hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong

bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, theo hướng đẩy mạnh cải

cách thủ tục hải quan, hiện đại hóa quản lý hải quan.

Luật Thuế xuất nhập khẩu sửa đổi năm 2016 với nhiều điểm mới bảo

hộ hợp lý hơn cho sản xuất, kinh doanh; Luật Quản lý ngoại thương được

Quốc hội thông qua (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) sẽ góp phần cân bằng

lợi ích giữa hoạt động quản lý nhà nước về ngoại thương của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền và khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển hoạt

động ngoại thương của thương nhân cũng như bảo đảm tính cạnh tranh

của nền kinh tế.

Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực kiểm tra chuyên

ngành được các Bộ, ngành tích cực triển khai thực hiện đã góp phần tạo

thuận lợi cho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa,

giảm chi phí xã hội. Trong lĩnh vực thuế, hải quan, việc áp dụng hệ thống

VNACCS/VCIS trong thông quan hải quan điện tử; ứng dụng khai thuế

điện tử và nộp thuế điện tử…, góp phần cải thiện mức độ thuận lợi hóa

thương mại của Việt Nam so với khu vực. Thời gian làm thủ tục hải quan

và thủ tục xuất nhập khẩu, thông quan hàng hóa qua biên giới đã được

rút ngắn đáng kể, đứng trong top 4 khu vực Đông Nam Á (gồm Singapore,

Thái Lan, Malaysia, Việt Nam).

Trong lĩnh vực tín dụng, nhiều chính sách đặc thù liên quan đến lĩnh

vực nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, xuất nhập khẩu được triển khai như144

 

cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, cho vay thu mua lúa gạo,

cho vay đối với nuôi trồng, thu mua, chế biến, xuất khẩu thủy sản, cho vay

hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ, cho vay phát triển công nghiệp hỗ trợ,…

(iii) Nhiều biện pháp nhằm điều chỉnh cơ cấu sản xuất một số mặt hàng

nông, thủy sản xuất khẩu như thủy sản, gạo, trái cây, điều, cà phê,… phù

hợp với định hướng tái cơ cấu và thích ứng với biến đổi khí hậu đã được

triển khai thực hiện và bước đầu mang lại kết quả tích cực.

Các hình thức tổ chức sản xuất được đổi mới và nâng cao hiệu quả. Xu

hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, hợp tác liên kết theo chuỗi giá trị

được nhân rộng (năm 2016 đã có 18 liên hiệp hợp tác xã và 10.854 hợp tác

xã, trên 100.000 tổ hợp tác nông nghiệp và khoảng 556.000 ha cánh đồng

lớn được xây dựng), hầu hết các địa phương đã có quy hoạch vùng cho khu

vực sản xuất hàng hóa tập trung.

Công tác phát triển công nghiệp chế biến và cơ giới hóa nông nghiệp

được tích cực thực hiện thông qua đẩy mạnh triển khai các chính sách

khuyến khích phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông, thủy sản,

đặc biệt là đối với các mặt hàng có đặc tính thời vụ cao; rà soát, điều chỉnh

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm đối

với cơ sở chế biến cà phê, chè, hạt điều, rau quả và thực hiện chính sách hỗ

trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông thủy sản theo Quyết định số

68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

(iv) Nhiều nhóm giải pháp phát triển thị trường, xúc tiến thương mại,

tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, phù hợp với

định hướng, nhiệm vụ nêu tại Chiến lược và Chương trình hành động và

đem lại hiệu quả rõ nét. Các khó khăn vướng mắc về thị trường được xử lý

kịp thời và có kết quả tốt, phía thị trường nhập khẩu đã ghi nhận những

nỗ lực của Việt Nam trong việc kiểm soát an toàn thực phẩm sản phẩm

xuất khẩu, đáp ứng các quy định của nước nhập khẩu, tạo điều kiện cho

các doanh nghiệp tiếp cận và duy trì thị trường xuất khẩu.

(v) Việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như một công cụ

để quản lý nhập khẩu bước đầu có những bước tiến. Việt Nam đã và đang

áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép nhập

khẩu từ Trung Quốc, Indonesia, Malaysia,…

Trên cơ sở sơ kết, đánh giá tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-

2016, tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Chiến

lược và Chương trình hành động đồng thời đánh giá khả năng thực hiện

mục tiêu, định hướng của Chiến lược trong bối cảnh, tình hình mới, Bộ

Công Thương đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục kiên trì các định

hướng của Chiến lược trong thời gian tới, tích cực triển khai các nhiệm vụ,

giải pháp nêu tại Chiến lược.

Đồng thời, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ, ngành tăng145

 

cường triển khai đồng bộ, có hiệu quả một số giải pháp chính nhằm nỗ lực

thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, góp phần cải thiện cán cân thương mại,

phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất có thể các mục tiêu đề ra, tập trung

vào 5 nhóm nhiệm vụ chính gồm phát triển sản xuất; phát triển thị trường;

cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh sản

phẩm xuất khẩu; các vấn đề liên quan đến tín dụng và thanh toán quốc tế

và các biện pháp tăng cường quản lý nhập khẩu.

Hiện nay, Bộ Công Thương đang tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành,

địa phương triển khai các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nêu trên.

  1. Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam

giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030

Những năm gần đây, ngành lúa gạo của Việt Nam đã đạt được nhiều

kết quả tích cực về năng suất, chất lượng nhờ những tiến bộ về giống,

sản xuất, chế biến. Trong lĩnh vực xuất khẩu, gạo đã trở thành một mặt

hàng xuất khẩu chủ lực, với kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD mỗi

năm và đã có mặt tại trên 150 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới;

chủng loại sản phẩm xuất khẩu ngày càng đa dạng, từng bước thâm

nhập được vào các thị trường khó tính như Hàn Quốc, Singapore, Hồng

Kông, Hoa Kỳ, EU… Tuy nhiên, sản xuất, chế biến lúa gạo còn một số

hạn chế như: Sản xuất nhỏ lẻ, kỹ thuật canh tác, thu hoạch, chế biến,

bảo quản còn bất cập, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu thị

trường, nhất là các thị trường đòi hỏi yêu cầu cao về chất lượng, an toàn

thực phẩm, truy xuất nguồn gốc; mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu,

xây dựng thương hiệu còn hạn chế.

Mặt khác, thị trường gạo quốc tế những năm gần đây diễn biến ngày

càng phức tạp, khó đoán định, đặt ra nhiều thử thách đối với ngành lúa

gạo Việt Nam. Việc điều chỉnh chính sách của các nước xuất khẩu gạo, tình

trạng dư cung kéo dài, tồn kho lớn đã tác động bất lợi tới nhu cầu và tâm

lý thị trường, làm cho tình hình cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay

gắt. Về phía các nước nhập khẩu, nhiều quốc gia, trong đó có các thị trường

trọng điểm của Việt Nam cũng tăng cường năng lực sản xuất trong nước,

hướng đến tự chủ về lương thực, đa dạng hóa nguồn cung, xây dựng hàng

rào kỹ thuật, thay đổi chính sách và phương thức nhập khẩu.

Tiến trình hội nhập quốc tế về kinh tế, tham gia vào các Hiệp định thương

mại tự do của Việt Nam đã mang lại nhiều cơ hội lớn, tạo điều kiện mở rộng

thị trường tiêu thụ cho nhiều mặt hàng xuất khẩu, song cũng đặt ra nhiều

thách thức đối với ngành lúa gạo. Do vậy, đòi hỏi cần tăng cường công tác

nghiên cứu, phát triển thị trường xuất khẩu để xuất khẩu gạo của Việt Nam

ngày càng có chỗ đứng vững chắc trên thị trường khu vực và thế giới.

Ngày 3/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số

942/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo146

 

của Việt Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030. Quan điểm

Chiến lược xác định:

(i) Phát triển thị trường xuất khẩu gạo để nâng cao hiệu quả và thúc

đẩy xuất khẩu gạo, góp phần tiêu thụ hết thóc, gạo hàng hóa với giá có lợi

cho người nông dân, nâng cao thu nhập của người nông dân, đảm bảo an

sinh xã hội, an ninh lương thực trong nước, bảo vệ môi trường sinh thái;

(ii) Phát triển thị trường xuất khẩu gạo để định hướng cho công tác quy

hoạch và tổ chức sản xuất lúa gạo hàng hóa trong nước theo hướng đảm

bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu tiêu thụ,

đáp ứng yêu cầu, quy định của thị trường.

(iii) Phát triển thị trường xuất khẩu gạo gắn với nâng cao năng lực

cạnh tranh, xây dựng thương hiệu của sản phẩm gạo xuất khẩu và thương

nhân kinh doanh xuất khẩu gạo Việt Nam trên thị trường và tăng cường

liên kết theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, xuất khẩu.

(iv) Phát triển thị trường xuất khẩu gạo theo hướng đa dạng hóa thị

trường, giảm phụ thuộc vào một số thị trường nhất định phù hợp với xu thế

hội nhập quốc tế về kinh tế và hợp tác quốc tế về đầu tư sản xuất, chế biến,

xuất khẩu gạo; khai thác cơ hội, tiềm năng, lợi thế từ các FTA, các cam kết

quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

(v) Phát triển thị trường xuất khẩu gạo nhằm cụ thể hóa và gắn với việc

thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định

hướng đến năm 2030; Chiến lược Hội nhập kinh tế quốc tế ngành nông

nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2030; Đề án phát triển các thị

trường khu vực thời kỳ 2015-2020, định hướng đến năm 2030; Đề án Tái cơ

cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển

bền vững; Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm

nhìn đến năm 2030; Đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Mục tiêu hướng tới là củng cố các thị trường xuất khẩu truyền thống,

trọng điểm và phát triển các thị trường xuất khẩu mới, tiềm năng; tăng

cường liên kết gắn sản xuất với thị trường theo chuỗi giá trị, bảo đảm chất

lượng gạo xuất khẩu; tăng cường đưa sản phẩm gạo Việt Nam vào các

kênh phân phối trực tiếp tại các thị trường; nâng cao giá trị, đảm bảo hiệu

quả xuất khẩu; khẳng định uy tín và thương hiệu gạo Việt Nam trên thị

trường. 7 nhóm giải pháp được hoạch định bao gồm:

(i) Giải pháp về tổ chức sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chế biến,

bảo quản, xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường.

(ii) Giải pháp về tăng cường quan hệ hợp tác về ngoại giao, kinh tế,

thương mại và đầu tư với các quốc gia và vùng lãnh thổ để phát triển

thị trường.147

 

(iii) Giải pháp về công tác phát triển thị trường.

(iv) Giải pháp về hoàn thiện thể chế.

(v) Giải pháp về nâng cao năng lực của thương nhân xuất khẩu gạo.

(vi) Giải pháp về cơ sở hạ tầng, logistics, thanh toán.

Tại Quyết định trên, Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ, ngành liên

quan có trách nhiệm tổ chức xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể

được phân công tại Phụ lục kèm theo Quyết định; xây dựng Kế hoạch

hành động thực hiện Chiến lược, xác định nội dung nhiệm vụ, giải pháp cụ

thể, thời hạn hoàn thành và nguồn lực thực hiện. Ngày 5/9/2017, Bộ Công

Thương đã có Quyết định số 3434/QĐ-BCT ban hành Kế hoạch của Bộ

Công Thương triển khai thực hiện Chiến lược. Bộ Khoa học và Công nghệ

và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành Kế hoạch hành động

thực hiện Chiến lược.

  1. Chương trình Thương hiệu Quốc gia

Chương trình Thương hiệu Quốc gia Việt Nam được Thủ tướng Chính

phủ phê duyệt tại Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25/11/2003. Đây

là Chương trình duy nhất của Chính phủ Việt Nam tiến hành với mục đích

quảng bá hình ảnh quốc gia, thương hiệu quốc gia thông qua thương hiệu

sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ).

Tiếp nối các chương trình, sự kiện đã được tổ chức trong các năm qua,

Chương trình Thương hiệu quốc gia năm 2017 tiếp tục đồng hành và hỗ trợ

các doanh nghiệp đạt Thương hiệu Quốc gia thông qua nhiều hoạt động:

– Tổ chức thành công Tuần lễ tự hào Thương hiệu Quốc gia từ ngày 19

đến ngày 26/6/2017 với nhiều hoạt động như Hội thảo chuyên sâu, Diễu

hành tự hào thương hiệu quốc gia, triển lãm ảnh sản phẩm, giới thiệu ấn

phẩm với mục đích tuyên truyền rộng rãi trong đại chúng về Chương trình

Thương hiệu Quốc gia, nâng cao niềm tự hào của các doanh nghiệp đạt

Thương hiệu Quốc gia.

– Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhân “Ngày Thương hiệu Việt

Nam 20/4” năm 2017. Đây là hoạt động nhằm khích lệ, động viên và hỗ trợ

cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nỗ lực xây dựng và phát triển và quảng

bá thương hiệu hàng hóa, dịch vụ Việt Nam ở trong và ngoài nước, qua đó

góp phần quảng bá, xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam trong cộng đồng

doanh nghiệp và bạn bè quốc tế. Các hoạt động truyền thông đang được

triển khai trên các phương tiện truyền thông như: Báo chí, truyền hình,

truyền thanh, băng rôn, website…

– Triển khai hoạt động truyền thông bên lề Hội nghị các Bộ trưởng Phụ

trách thương mại APEC lần thứ 23-MRT 23. Từ ngày 20 đến 21/5/2017,

khu trưng bày sản phẩm thương hiệu Việt Nam bên lề MRT 23 đã tích cực148

 

quảng bá hình ảnh doanh nghiệp, sản phẩm Việt Nam tới bạn bè quốc tế.

Khu gian hàng được thiết kế thống nhất, nổi bật hình ảnh Vietnam Value,

tạo điểm nhấn trong tổng thể trang trí khu hội nghị.

– Phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí lớn thực hiện các chương

trình truyền thông cho Chương trình và doanh nghiệp đạt Thương hiệu

Quốc gia như: Thời báo Kinh tế Việt Nam, Báo Công Thương, Báo điện tử

VnExpress, Truyền hình Thông tấn, Truyền hình Công Thương.

– Hỗ trợ doanh nghiệp Thương hiệu Quốc gia tham gia gian hàng tại

các Hội chợ, Triển lãm thường niên như: Vietnam Expo, Foodexpo cũng

như quảng bá về các doanh nghiệp Thương hiệu quốc gia và Chương trình

Thương hiệu Quốc gia tại các Hội chợ này.

– Hỗ trợ nâng cao nhận thức, năng lực quản trị, xây dựng và bảo vệ

thương hiệu cho các doanh nghiệp Thương hiệu quốc gia thông qua các

chương trình Hội thảo, Diễn đàn, Đào tạo phổ biến thông tin cho doanh

nghiệp nhằm nâng cao nhận thức trong xây dựng và phát triển thương

hiệu cho doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng

sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các hoạt động đã thực hiện bao gồm:

Hội thảo phát triển thương hiệu gắn với yếu tố xanh (ngày 19/4), Chương

trình đào tạo nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua

phát triển thương hiệu (ngày 30/8), Hội thảo Đẩy mạnh phát triển thương

hiệu Việt sang thị trường Hàn Quốc (ngày 12/10), Hội thảo Định giá tài sản

thương hiệu trong bối cảnh hội nhập quốc tế (ngày 4/12).

– Xuất bản các ấn phẩm xúc tiến thương mại như: Vietbiz Chè, Vietbiz

Da giầy, VietBrand Đồ gỗ bằng tiếng Anh để giới thiệu, quảng bá về ngành

hàng xuất khẩu và thương hiệu sản phẩm tiêu biểu của Việt Nam; cuốn

Thương mại và Đầu tư Việt Nam – Trade & Investment bằng tiếng Anh

nhằm giới thiệu tiềm năng, quảng bá về kinh tế, thương mại và đầu tư của

Việt Nam.

  1. Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia

Trong năm 2017, các hoạt động thuộc Chương trình Xúc tiến thương

mại quốc gia đã hỗ trợ khoảng gần 4.000 lượt doanh nghiệp, giá trị các

hợp đồng xuất khẩu đạt khoảng 17,5 triệu đô la và doanh số bán hàng đạt

khoảng 185 tỷ đồng. Trong đó, các kết quả cụ thể như sau:

4.1. Về phát triển thị trường

Với sự hỗ trợ từ Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, sự hiện

diện của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam tại các thị trường truyền thống

như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc ngày càng mở rộng.

Đồng thời, Chương trình đã hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục quay trở lại

thị trường Liên bang Nga, các nước Đông Âu, tăng cường hoạt động tại

thị trường Myanmar, Lào, một số nước Trung Đông, Châu Phi và Mỹ La149

 

tinh; tận dụng các lợi thế do các FTA mang lại, giúp các doanh nghiệp

Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ vào các thị trường; xúc

tiến đẩy mạnh hoạt động thương mại, đầu tư; nâng cao vị thế và hình ảnh

của Việt Nam.

4.2. Về phát triển ngành hàng

Thông qua Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia, các tổ chức xúc

tiến thương mại đã hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận, mở rộng thị

trường tại các thị trường trọng điểm, thị trường mới, nhiều tiềm năng.

Đối với nhóm hàng nông, thủy sản, thông qua các đơn vị chủ trì, Chương

trình Xúc tiến thương mại quốc gia đã hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia

các hội chợ triển lãm hàng đầu thế giới về nông sản, thực phẩm tại các

thị trường trọng điểm như: Hội chợ Rau quả Asia Fruit Logistica (Hồng

Kông), Triển lãm Thực phẩm Quốc tế Seoul – Seoul Food, Hội chợ Quốc tế

về Thực phẩm và Đồ uống Nhật Bản – Foodex Japan, Hội chợ Quốc tế về

thực phẩm và đồ uống Hoa Kỳ – Fancy Food Show, Triển lãm thủy sản Bắc

Mỹ tại Boston, Đoàn giao dịch thương mại tại thị trường Ba Lan kết hợp

tham dự Hội chợ Tea & Coffee World Cup, Triển lãm thủy sản toàn cầu tại

Bỉ, Hội chợ Thực phẩm đồ uống Anuga, Hội chợ World Food Moscow, Hội

chợ thủy sản Trung Đông và Châu Phi – Seafex Dubai, Hội chợ Thực phẩm

và Đồ uống SIAL Paris. Mỗi chương trình thu hút trung bình 10-15 doanh

nghiệp tham gia, giá trị hợp đồng ký kết đạt trung bình khoảng 5 triệu

USD. Hoạt động xúc tiến thương mại đã chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp xây

dựng, phát triển sản phẩm, thương hiệu, nâng cao giá trị gia tăng và tạo

chỗ đứng cho nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới.

Đối với nhóm hàng công nghiệp, Chương trình tập trung hỗ trợ các hoạt

động tổ chức tham gia các các hội chợ chuyên ngành có uy tín trên thế giới,

tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng, đón nhà nhập khẩu vào Việt Nam

mua hàng.

Đối với ngành da giày, Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia

đã hỗ trợ Hiệp hội Da giày và Túi xách Việt Nam tổ chức các đoàn doanh

nghiệp tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế chuyên ngành tại Hoa Kỳ,

tổ chức hoạt động giao thương tại thị trường tiềm năng, mời các nhà nhập

khẩu vào Việt Nam giao dịch với các doanh nghiệp ngành da giày… tạo điều

kiện cho các doanh nghiệp trong ngành có cơ hội quảng bá sản phẩm với

khách hàng quốc tế nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.

Đối với ngành dệt may, Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia

đã hỗ trợ một phần kinh phí cho Hiệp hội Dệt may Việt Nam tổ chức được

những chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước thành công

và có uy tín như Hội chợ Magic Show Hoa Kỳ, Hội chợ Apparel Sourcing

tại Paris, Pháp,…

Các hoạt động xúc tiến thương mại này đã góp phần quảng bá năng lực150

 

sản xuất và phát triển ngành dệt may, da giày, tạo điều kiện cho doanh

nghiệp tham gia tiếp cận xu hướng thị trường thế giới, góp phần hỗ trợ cho

các doanh nghiệp phát triển sản phẩm, phát triển sản xuất.

Đối với công nghiệp hỗ trợ, Chương trình đã hỗ trợ các đơn vị chủ trì

thực hiện các hoạt động như tổ chức đoàn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ

đi giao thương, xúc tiến thương mại tại Nhật Bản, Hàn Quốc, EU tạo điều

kiện cho các doanh nghiệp từng bước tham gia vào các khâu trong chuỗi

giá trị toàn cầu.

Đối với ngành công nghiệp sáng tạo, Chương trình đã tổ chức các hoạt

động nâng cao năng lực thiết kế, phát triển sản phẩm xuất khẩu, hội nghị

quốc tế công nghiệp sáng tạo, tham gia Triển lãm phần mềm Sodec Nhật

Bản, Hội nghị quốc tế ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam… nhằm hỗ

trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển giá trị gia tăng

cho sản phẩm xuất khẩu.

4.3. Về nâng cao năng lực cho các tổ chức xúc tiến thương mại

và doanh nghiệp

Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia thời gian qua cũng đã chú

trọng thực hiện các khóa đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực tổ chức hoạt

động xúc tiến thương mại cho các đơn vị chủ trì, nâng cao năng lực cho các

doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến thương mại, kỹ năng phát triển thị

trường, phát triển sản phẩm phục vụ xuất khẩu.

Thông qua hỗ trợ các hoạt động cụ thể, Chương trình đã tạo điều kiện

cho các hiệp hội ngành hàng, cơ quan xúc tiến thương mại thực hiện triển

khai các hoạt động xúc tiến thương mại, doanh nghiệp tham gia hoạt động

xúc tiến thương mại trong và ngoài nước. Qua đó năng lực của các tổ chức

xúc tiến thương mại, hiệp hội ngành hàng, trung tâm xúc tiến thương mại

địa phương đã có những tiến bộ rõ nét. Các hoạt động xúc tiến thương mại

đã được triển khai bài bản hơn, chuyên nghiệp hơn. Năng lực tham gia

hoạt động xúc tiến thương mại của doanh nghiệp cũng được nâng cao đáng

kể, doanh nghiệp đã từng bước quen thuộc và chủ động hơn trong việc

tham gia hoạt động xúc tiến thương mại trong và ngoài nước.

Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia tiếp tục hỗ trợ nguồn kinh

phí quan trọng cho các Hiệp hội ngành hàng, các địa phương thực hiện các

hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp củng cố, mở rộng thị

trường xuất khẩu.

Các doanh nghiệp Việt Nam – những người hưởng lợi trực tiếp từ

Chương trình – có cơ hội tham gia vào các hoạt động xúc tiến thương mại

hiệu quả, nhằm tìm kiếm khách hàng mới, đồng thời duy trì, củng cố quan

hệ với những bạn hàng sẵn có. Các doanh nghiệp có cơ hội để học hỏi kinh

nghiệm, tiếp cận được với công nghệ mới, các tiến bộ kỹ thuật để giúp việc

sản xuất sản phẩm và cải tiến mẫu mã phù hợp hơn với thị trường. Đồng151

 

thời, nhận định xu hướng thị trường, nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng

để có căn cứ xây dựng định hướng chiến lược phát triển sản xuất kinh

doanh và phát triển các nguồn lực.

Các hoạt động xúc tiến thương mại mang tính liên kết vùng đi vào nề

nếp đã nâng cao hiệu quả tổ chức cũng như hiệu quả tham gia hội chợ triển

lãm của các doanh nghiệp đồng thời nâng cao năng lực cho các trung tâm

xúc tiến thương mại địa phương trong việc tổ chức hội chợ triển lãm nói

riêng và tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại nói chung.

Thông qua Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia các tổ chức xúc

tiến thương mại, hiệp hội ngành hàng, trung tâm xúc tiến thương mại địa

phương phát huy vai trò hỗ trợ doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp

địa phương trong hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm, mở rộng thị

trường, quảng bá ngành hàng, địa phương đối với người tiêu dùng trong

nước và quốc tế. Năng lực triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại của

các đơn vị chủ trì cũng đã có những tiến bộ rõ nét. Các hoạt động xúc tiến

thương mại đã được triển khai bài bản hơn, chuyên nghiệp hơn, thu hút

nhiều doanh nghiệp tham gia hơn các năm trước.

  1. XUẤT XỨ HÀNG HÓA
  2. Các biện pháp tạo thuận lợi trong hoạt động cấp Giấy chứng nhận

xuất xứ hàng hóa.

1.1. Hình thức chứng nhận xuất xứ qua Internet

Hiện nay 100% thủ tục hành chính xin cấp C/O của Bộ Công Thương

được thương nhân sử dụng chữ ký số và khai báo trực tuyến trên hệ thống

xuất xứ điện tử (eCoSys).

Hệ thống eCoSys của Bộ Công Thương cho phép triển khai 2 hình thức,

bao gồm:

– Khai báo nội dung C/O và lưu trữ dữ liệu trên Hệ thống eCoSys;

– Cấp C/O qua Internet: Theo hình thức này, thương nhân có thể khai

báo nội dung C/O và gửi (đính kèm) các chứng từ cần thiết qua Internet

thay vì nộp chứng từ giấy. Nhờ vậy, công chức tại các đơn vị được ủy quyền

có thể xem xét, kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp C/O và thông báo kết quả xử lý

cho thương nhân qua mạng.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã nỗ lực đơn giản hóa thủ tục hành chính

trong lĩnh vực cấp C/O, bước đầu tạo chuyển biến tích cực với hình thức cấp

C/O qua mạng Internet. Theo quy trình cấp C/O qua mạng Internet, thương

nhân khai báo và nộp chứng từ điện tử, không phải đến trụ sở cơ quan, tổ

chức cấp C/O để nộp hồ sơ giấy. Thời gian trả hồ sơ 2 giờ làm việc tính từ thời

điểm nhận hồ sơ đã duyệt trên mạng, ngắn hơn trường hợp thương nhân nộp

hồ sơ trực tiếp là 8 giờ làm việc và gửi qua bưu điện là 1 ngày làm việc.152

 

Trong năm 2017, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký ban hành Quyết

định số 1313/QĐ-BCT sửa đổi, bổ sung Quyết định số 2412/QĐ-BCT

ngày 15/6/2016 về Quy trình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu

đãi qua Internet. Theo đó, chính thức áp dụng việc cấp C/O mẫu D, mẫu

EAV và mẫu VC điện tử và khuyến khích các thương nhân khai báo C/O

qua Internet. Năm 2017, lượng C/O khai báo kèm chứng từ được cấp qua

Internet là 224.307 bộ, riêng mẫu D là 126.751 bộ.

Việc triển khai cấp C/O qua Internet sẽ giúp giảm thời gian đi lại và cắt

giảm được chi phí giấy tờ cho thương nhân do đã có thể gửi chứng từ qua

Internet. Đối với các Tổ chức cấp C/O, việc cấp C/O qua Internet giúp giảm

không gian lưu trữ hồ sơ do các chứng từ đã được lưu trữ dưới dạng điện

tử trên Hệ thống eCoSys theo quy định tại Nghị định số 01/2013/NĐ-CP

ngày 03/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của

Luật Lưu trữ. Việc truy xuất báo cáo, thống kê, tra cứu, xác minh tính xác

thực của C/O đã cấp cũng dễ dàng, thuận tiện hơn. Ngoài ra, khi VNNSW

được kết nối với Cơ chế một cửa ASEAN (ASW) và cơ quan Hải quan của

các nước đối tác, C/O điện tử sẽ được gửi tới cơ quan Hải quan của các nước

đối tác, sẽ giúp giảm chi phí gửi chứng từ, rút ngắn thời gian xác minh tính

xác thực của C/O, từ đó giảm chi phí lưu kho cho hàng hóa của Việt Nam

xuất khẩu sang các nước.

1.2. Cơ chế doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ

1.2.1. Cơ sở pháp lý

Một trong những vấn đề mới xuất hiện trong quá trình đàm phán các

FTA là cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa (TCNXX). Cơ chế này đang

trở thành xu hướng mới trong các FTA như CPTPP, Hiệp định FTA giữa

Việt Nam và Liên minh Châu Âu và Hiệp định Thương mại hàng hóa

ASEAN (ATIGA).

Mục tiêu của ASEAN là thực hiện áp dụng cơ chế TCNXX rộng rãi với

sự tham gia của tất cả các nước thành viên vào năm 2018. Do hiện tại 4

nước tham gia thí điểm tự chứng nhận theo Dự án số 1 và các nước còn lại

chưa tham gia có quan điểm khác biệt chủ yếu về phạm vi đối tượng được

tự chứng nhận nên Dự án thí điểm tự chứng nhận số 2 được xây dựng và

thực thi song song với Dự án số 1. Vào tháng 12/2011, tại cuộc họp Nhóm

công tác quy tắc xuất xứ ASEAN (SCAROO), Philippines đã lần đầu tiên

trình bày về dự án thí điểm tự chứng nhận số 2 và dự thảo nội dung Quy

trình thủ tục chứng nhận xuất xứ (OCP) cho dự án thí điểm số 2 này trên

cơ sở tham khảo ý kiến của Indonesia và Việt Nam. Các nước Philippines,

Indonesia, Lào đã ký Biên bản ghi nhớ (MOU) của dự án thí điểm số 2 vào

tháng 8/2012 và đã bắt đầu triển khai thực hiện vào quý 4/2012.

1.2.2. Thực tế triển khai TCNXX tại Việt Nam

Cơ chế TCNXX được coi là bước đột phá trong việc cải cách thủ tục hành153

 

chính. Theo cơ chế này, thương nhân được tự khai báo và cam kết về xuất

xứ hàng hóa thay cho việc đề nghị cấp C/O tại các Tổ chức cấp C/O. Cơ chế

TCNXX giúp thương nhân xuất khẩu tiết kiệm chi phí, thời gian, chủ động

trong hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu.

Qua thực tế triển khai thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng

hóa trong ASEAN theo quy định nội luật tại Thông tư số 28/2015/TT-BCT

ngày 20/8/2015, để mở rộng số lượng thương nhân được phép TCNXX, Bộ

Công Thương đã ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BCT ngày 6/12/2017

sửa đổi, bổ sung Thông tư số 28/2015/TT-BCT, theo đó:

– Bãi bỏ tiêu chí “Kim ngạch xuất khẩu đi ASEAN được cấp C/O mẫu D

năm trước liền kề đạt tối thiểu 10 (mười) triệu đô la Mỹ” và thay bằng tiêu

chí “Là doanh nghiệp nhỏ và vừa trở lên”.

– Bổ sung quy định: “Thương nhân được lựa chọn không được tự chứng

nhận xuất xứ hàng hóa đối với những lô hàng do cơ quan hải quan phân

loại vào luồng vàng hoặc luồng đỏ” nhằm phòng ngừa rủi ro vi phạm xuất

xứ khi thực hiện thí điểm TCNXX.

1.3. Công tác tuyên truyền phổ biến FTA

Trong năm 2017, Bộ Công Thương đã chủ trì hoặc phối hợp cùng các Bộ

ngành hữu quan, Sở Công Thương các địa phương, Hiệp hội ngành hàng và

Dự án EU-MUTRAP tổ chức và thực hiện nhiều Hội nghị, Hội thảo, Khóa

tập huấn về Quy tắc xuất xứ, Tự chứng nhận xuất xứ. Nội dung tập huấn

chuyên sâu về quy tắc xuất xứ trong các FTA, các thỏa thuận thương mại

quốc tế mà Việt Nam tham gia; tập trung vào các ngành hàng xuất khẩu

chủ đạo của Việt Nam; cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật trong

lĩnh vực xuất xứ hàng hóa và hướng dẫn thực hiện có hiệu quả các văn bản

này.

Thông qua các Hội nghị, Hội thảo, các lớp đào tạo, các khóa tập huấn,

các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng và các cán bộ từ các cơ quan hữu

quan được cập nhật thông tin về quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế, quá

trình tham gia và thực hiện các FTA của Việt Nam; nắm vững các kiến

thức cơ bản về quy tắc xuất xứ ưu đãi và không ưu đãi để từ đó vận dụng

phù hợp vào quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa hiệu quả, nâng cao tỷ lệ

tận dụng ưu đãi thuế quan trong các FTA Việt Nam là thành viên.

  1. Tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi

2.1. Tình hình cấp C/O ưu đãi của Bộ Công Thương

Tổng kim ngạch xuất khẩu sử dụng các loại C/O ưu đãi năm 2017 đạt

33,4 tỷ USD, chiếm 34% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường ký

FTA và tăng 26% so với năm 2016.

Năm 2017, các tổ chức được ủy quyền đã cấp 764.052 bộ C/O ưu đãi cho154

 

hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường với trị giá 37,8 tỷ USD,

tăng 26% về trị giá và tăng 25% về số lượng hồ sơ so với năm 2016.

2.2. Tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi đối với các mặt hàng xuất khẩu của

Việt Nam năm 2017

2.2.1. Về kim ngạch sử dụng C/O ưu đãi

– Đứng đầu là C/O mẫu E, đạt 9,2 tỷ USD cho hàng hóa Việt Nam xuất

khẩu sang Trung Quốc, tăng 35% so với năm 2016.

– Tiếp đó là C/O mẫu AK và VK, đạt 7,6 tỷ USD cho hàng hóa Việt Nam

xuất khẩu sang Hàn Quốc, tăng 20% so với năm 2016.

– Đứng thứ ba là C/O mẫu D, đạt 6,5 tỷ USD cho hàng hóa của Việt

Nam xuất khẩu sang các nước ASEAN, tăng 23% so với năm 2016.

– Kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O mẫu AI cho hàng hóa của Việt

Nam xuất khẩu sang Ấn Độ tuy không cao, chỉ đạt hơn 1,8 tỷ USD nhưng

có mức tăng trưởng cao nhất là 55% so với 1,2 tỷ USD năm 2016.

2.2.2. Về tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA

– Thị trường Chile vẫn đứng đầu với tỷ lệ sử dụng C/O mẫu VC cao nhất

là 69%.

– Đứng thứ hai là thị trường Hàn Quốc với tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi

mẫu AK/VK là 51%.

– Thị trường Ấn Độ vươn lên vị trí thứ ba với tỷ lệ tận dụng ưu đãi C/O

mẫu AI là 48%, đẩy thị trường Nhật Bản xuống vị trí thứ tư với tỷ lệ tận

dụng C/O mẫu AJ/VJ là 35%.

Tuy nhiên, tính chung tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA của Việt Nam năm

2017 chỉ đạt 34%, thấp hơn 2% so với tỷ lệ này của năm 2016 (36%).

Bảng 24: Tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi của Việt Nam năm 2017

MẪU C/O Năm 2017 (đơn vị: Triệu USD)

Trị giá cấp C/O Kim ngạch XK Tỷ lệ tận dụng

Mẫu AANZ 1.230,43 3.757,03 33%

Mẫu AI 1.807,44 3.755,68 48%

Mẫu AJ+VJ 5.833,84 16.841,46 35%

Mẫu AK+VK 7.621,28 14.822,85 51%

Mẫu D 6.535,89 21.680,27 30%

Mẫu E 9.170,69 35.462,69 26%

Mẫu EAV 484,41 2.167,38 22%

Mẫu S 50,82 524,51 10%155

 

Mẫu VC 684,72 999,39 69%

Mẫu X 0,26 2.776,14 0%

Tổng các mẫu C/O 33.419,77 99.486,76 34%

Nguồn: Bộ Công Thương và Tổng cục Hải quan

Các mặt hàng nông sản của Việt Nam (Chương 01-24) có tỷ lệ tận dụng

ưu đãi FTA tốt do hầu hết đều đáp ứng quy tắc xuất xứ thuần túy (WO) đối

với nông sản thô hoặc chưa chế biến sâu và quy tắc Hàm lượng Giá trị Khu

vực (RVC) hoặc Chuyển đổi mã số HS (CTC) đối với nông sản chế biến.

2.2.3. Tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi đối với một số thị trường cụ thể

Thị trường Australia và New Zealand (C/O mẫu AANZ)

Những năm gần đây, tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA này tương đối ổn định ở

mức trên 30%. Năm 2017, tỷ lệ này là 33%. Các mặt hàng có tỷ lệ tận dụng

ưu đãi AANZFTA trên 80% có thể kể đến như gỗ và sản phẩm gỗ (85%);

giày dép (97%); dây điện và cáp điện (92%); sản phẩm dệt may (84%); nhựa

và sản phẩm nhựa (90%). Nhóm hàng nông nghiệp chưa xuất khẩu được

nhiều do 2 thị trường này rất khắt khe với các yêu cầu cao về kiểm dịch

động thực vật. Trong nhóm sản phẩm nông nghiệp, ghi nhận nhóm hàng

rau quả có tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA tốt nhất, ở mức 56%.

Thị trường Ấn Độ (C/O mẫu AI)

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi AIFTA của Việt Nam năm 2017 là 48%. Một số

mặt hàng có tỷ lệ tận dụng ưu đãi cao như giày dép (88%); gỗ và sản phẩm

gỗ (74%). Tỷ lệ sử dụng C/O mẫu AI đối với sản phẩm thép từ Việt Nam

xuất khẩu sang Ấn Độ ở mức rất cao (90%), tuy nhiên Ấn Độ đã đặt vấn

đề nghi ngờ có sự gian lận xuất xứ hoặc chuyển tải từ Trung Quốc tới Việt

Nam rồi xuất khẩu sang Ấn Độ; hoặc công đoạn gia công tại Việt Nam chưa

đủ để xét xuất xứ.

Thị trường Hàn Quốc (C/O mẫu AK và C/O mẫu VK)

Những năm gần đây, thị trường Hàn Quốc liên tục dẫn đầu nhóm các

thị trường nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam có tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA

cao nhất. Xuất khẩu sang Hàn Quốc năm 2017 đạt tỷ lệ tận dụng ưu đãi chỉ

đứng sau Chile (51% so với 69%). Tuy nhiên xét về kim ngạch xuất khẩu sử

dụng C/O ưu đãi thì từ Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc trên 7,6 tỷ USD

trong khi từ Việt Nam xuất khẩu sang Chile chỉ có 685 triệu USD.

Những nhóm hàng tận dụng ưu đãi FTA tốt nhất có thể kể đến như

thủy sản (92%), hạt tiêu (gần 95%), cà phê (93%), rau quả (82%); gỗ và sản

phẩm gỗ (82%); giày dép (gần 100%); hàng dệt may (88%).

Việc tận dụng tốt ưu đãi từ 2 FTA này (AKFTA và VKFTA) trước hết

là do quy tắc xuất xứ của 2 FTA này tương đối linh hoạt; người sản xuất,156

 

xuất khẩu có thể dễ dàng đáp ứng tiêu chí xuất xứ, từ đó xin được C/O mẫu

AK và VK cho hàng xuất khẩu. Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI của Hàn

Quốc tại Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu từ Hàn Quốc để được cộng gộp

cho công đoạn sản xuất tiếp theo tại Việt Nam, từ đó dễ dàng xin C/O cho

thành phẩm xuất khẩu trở lại Hàn Quốc.

Cơ hội từ thị trường Hàn Quốc còn khá cao vì trong Hiệp định VKFTA,

Hàn Quốc xóa bỏ thêm cho Việt Nam 506 dòng thuế, trong đó có một số mặt

hàng có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam như tôm, dệt may, sản phẩm

gỗ, hoa quả nhiệt đới (tươi, đóng hộp), thủy sản đông lạnh…

Thị trường ASEAN (C/O mẫu D)

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi của FTA này dao động ổn định từ 30-35% qua

các năm. Năm 2017, tỷ lệ tận dụng ưu đãi C/O mẫu D chỉ đạt 30%. Một số

nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều đạt tỷ lệ tận dụng cao,

như hạt điều, chè và cà phê (gần 100%); giày dép đạt tỷ lệ 86%.

Tỷ lệ sử dụng C/O mẫu D chưa cao do một số mặt hàng (như dầu thô,

gạo,…) xuất khẩu sang các nước ASEAN không phải sử dụng C/O mẫu D

chiếm tỉ trọng lớn, gần 50% kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN. Mức thuế

suất thuế nhập khẩu MFN đối với các mặt hàng này của một số nước như

Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines đều bằng 0%.

Thị trường Trung Quốc (C/O mẫu E)

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi C/O mẫu E hầu như không thay đổi qua các năm,

thường xuyên ở ngưỡng xấp xỉ 30%. Một số nhóm hàng có tỷ lệ tận dụng

ưu đãi C/O mẫu E rất tốt như giày dép (gần 100%); cao su và các sản phẩm

từ cao su (82%).

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc những sản phẩm sơ

cấp như nông lâm thuỷ sản, than đá, dầu thô, đá, thạch cao… Những

mặt hàng nguyên nhiên liệu này có thuế suất MFN bằng 0% nên không

cần sử dụng C/O mẫu E khi xuất khẩu. Ngoài ra, tương tự AIFTA, FTA

giữa ASEAN và Trung Quốc cũng được đánh giá ở mức độ kém linh hoạt

do chỉ có duy nhất tiêu chí Hàm lượng ACFTA là tiêu chí chung nên việc

tận dụng ưu đãi không thuận lợi như các FTA có tiêu chí lựa chọn RVC

hoặc CTH.

Thị trường Lào (C/O mẫu S) và thị trường Campuchia (C/O mẫu X)

Kim ngạch xuất khẩu sử dụng C/O mẫu S và mẫu X sang 2 thị trường

này không cao. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi C/O mẫu S và mẫu X cũng không

đáng kể do phần lớn doanh nghiệp sử dụng C/O mẫu D khi xuất khẩu hàng

hóa sang 2 thị trường này.

Thị trường Chile (C/O mẫu VC)

Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam – Chile có nhiều mặt hàng157

 

có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục được cắt giảm thuế quan

trong thời gian tới theo cam kết của Chile trong Hiệp định như gạo, sản

phẩm cao su, sản phẩm dệt may, giày dép, sản phẩm nội thất…

Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu sang Chile có sử dụng C/O ưu đãi

đạt 685 triệu USD, tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA đạt 69%, đây là tỷ lệ cao

nhất trong số các FTA Việt Nam tham gia. Các mặt hàng thế mạnh xuất

khẩu của Việt Nam, có tỷ lệ tận dụng ưu đãi cao là giày dép (96%); gạo

(83%) và hàng dệt may (35%). Dung lượng thị trường không lớn nhưng

tỷ lệ tận dụng ưu đãi cao là tín hiệu tích cực cho thấy doanh nghiệp đã

biết vận dụng tốt các ưu đãi thông qua quy tắc xuất xứ khi xuất khẩu

tới thị trường Châu Mỹ này.

Thị trường Nhật Bản (C/O mẫu AJ và VJ)

Trong số gần 17 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản năm

2017, Việt Nam đã cấp C/O ưu đãi cho lượng hàng hóa trị giá trên 5,8

tỷ USD, tỷ lệ tận dụng ưu đãi của AJCEP và VJEPA là 35%. Một trong

những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ này chưa cao, là do quy tắc xuất

xứ của 2 FTA này được coi là chặt nhất trong số các FTA Việt Nam đã

ký với các đối tác. Đây cũng là FTA đã thực hiện duy nhất tính đến

thời điểm này áp dụng quy tắc từ vải trở đi đối với ngành dệt may Việt

Nam. Việc Indonesia không thông qua Hiệp định AJCEP khiến cho

nguyên liệu nhập khẩu từ Indonesia không được cộng gộp trong việc

tính xuất xứ cho hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản sử dụng

C/O mẫu AJ.

Một số nhóm hàng có tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA tốt có thể kể đến

như rau quả (52%), thủy sản (67%), nhựa và sản phẩm nhựa (86%),

giày dép (85%).

Thị trường Liên minh Kinh tế Á – Âu

FTA giữa Việt Nam và EAEU gồm 5 nước Nga, Belarus, Kazakhstan,

Armenia và Kyrgyzstan có hiệu lực từ ngày 5/10/2016. Nhiều mặt hàng có

thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam đã được cắt giảm thuế quan ngay khi

Hiệp định có hiệu lực như dệt may, túi xách, thủy sản.

Năm 2017, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EAEU trên 484 triệu

USD hàng hóa sử dụng C/O ưu đãi mẫu EAV, chiếm 22% tổng kim ngạch

xuất khẩu sang thị trường này. Một số mặt hàng xuất khẩu có tỷ lệ tận

dụng C/O mẫu EAV ở mức cao như: hàng dệt may gần 100%, giày dép 95%,

nhựa và các sản phẩm nhựa 71%.

  1. Một số quy định mới về xuất xứ hàng hóa trong các hiệp định

Trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa, năm 2017, Việt Nam đã hoàn tất đàm158

 

phán FTA giữa ASEAN và Hồng Kông, Trung Quốc (AHKFTA). AHKFTA

được ký ngày 12/11/2017 tại Philippines, theo đó Hiệp định cho phép các

Bên tiếp tục đàm phán các dòng PSR trong thời hạn 1 năm (hoặc có thể

hơn) kể từ khi FTA có hiệu lực.

Cũng trong năm 2017, Việt Nam hoàn tất đàm phán phiên thứ 20 Hiệp

định Đối tác kinh tế toàn diện RCEP. Một số điểm mới được đề xuất trong

RCEP (so với các FTA ASEAN đã thực hiện) đó là Tự chứng nhận xuất xứ/

Tự khai báo xuất xứ, Xuất xứ thuần túy trong phạm vi FTA, Cộng gộp toàn

phần không có ngưỡng.

– Tự khai báo xuất xứ cho phép nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập

khẩu tự khai báo, tự chịu trách nhiệm về xuất xứ của hàng hóa. Cơ chế này

linh hoạt hơn cơ chế Tự chứng nhận xuất xứ do nhà sản xuất, xuất khẩu

muốn trở thành nhà xuất khẩu được ủy quyền TCNXX phải đáp ứng một

số điều kiện nhất định.

– Xuất xứ thuần túy trong phạm vi FTA nghĩa là mỗi Bên thành viên

FTA có thể được xem như 1 tỉnh/thành phố và toàn bộ khu vực FTA được

xem như 1 quốc gia thống nhất. Trong hầu hết các FTA Việt Nam tham

gia, xuất xứ thuần túy được định nghĩa “trong phạm vi lãnh thổ một Bên

thành viên FTA”. Quy định mới này cho phép mở rộng nguồn cung nguyên

liệu và tối ưu hóa chuỗi cung ứng giá trị khu vực. Cách tiếp cận này đã có

trong CPTPP và trong một số dòng của AKFTA.

– Cộng gộp toàn phần không có ngưỡng nghĩa là nguyên liệu không

cần thiết phải đáp ứng ngưỡng 40%, chỉ cần tạo ra giá trị gia tăng dù

vài phần trăm cũng được cộng gộp và sẽ cộng đúng số phần trăm thực tế

được tạo ra đó. Trong hầu hết các FTA Việt Nam tham gia, cơ chế cộng

gộp phổ biến là “cộng gộp có ngưỡng”, theo đó để được cộng gộp vào quá

trình sản xuất tiếp theo, nguyên liệu bắt buộc phải đáp ứng tối thiểu

40% (nếu FTA đó quy định ngưỡng RVC là 40%) và khi đó nguyên liệu

sẽ được cộng gộp 100% trị giá vào quá trình sản xuất tiếp theo để tạo ra

thành phẩm. Với cộng gộp toàn phần không có ngưỡng, nếu nguyên liệu

đạt RVC 40% thì sẽ được cộng gộp 100%; nếu nguyên liệu đạt RVC nhỏ

hơn 40% thì sẽ được cộng gộp đúng số phần trăm thực tế được tạo ra.

Cộng gộp toàn phần không có ngưỡng đã có trong CPTPP và nay những

nước vừa là thành viên CPTPP vừa là thành viên RCEP muốn giới thiệu

cách tiếp cận này tại RCEP.

– Quy tắc sản xuất nhựa và quy tắc phản ứng hóa học (áp dụng với các

Chương từ 28-40) cho phép thành phẩm không cần phải trải qua quá trình

chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) cũng không cần phải tính toán RVC, chỉ

cần chứng minh có phản ứng hóa học xảy ra thì thành phẩm được coi là có

xuất xứ RCEP.159

 

  1. PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI
  2. Các vụ việc phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của

Việt Nam

1.1. Tình hình điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương

mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

Tính đến hết năm 2017, đã có 124 vụ việc phòng vệ thương mại (PVTM)

của nước ngoài tiến hành điều tra và áp dụng liên quan đến hàng hóa xuất

khẩu của Việt Nam, trong đó: chống bán phá giá (AD) 75 vụ, chống trợ cấp

(CVD)10 vụ, chống lẩn tránh thuế (AC) 17 vụ và tự vệ (SG) 22 vụ. Hoa Kỳ

là nước điều tra Việt Nam nhiều nhất (23 vụ), tiếp đến là Thổ Nhĩ Kỳ (18

vụ), Ấn Độ (15 vụ) và EU (13 vụ), còn các nước khác dưới 10 vụ. Các mặt

hàng bị điều tra rất đa dạng, từ các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn

hàng tỷ USD như sắt, thép, thủy sản, máy giặt,… đến các mặt hàng có kim

ngạch xuất khẩu rất nhỏ chỉ vài triệu USD như tủ dụng cụ, tháp gió,…

Biểu đồ 12: Các biện pháp PVTM theo thị trường xuất khẩu

Riêng trong năm 2017 đã có 13 vụ việc điều tra PVTM do nước ngoài

tiến hành đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, bao gồm 7 vụ việc

chống bán phá giá, 2 vụ việc chống lẩn tránh thuế, 1 vụ việc chống trợ

cấp và 3 vụ việc tự vệ. Một số vụ việc nổi bật trong giai đoạn gần đây như:

Hoa Kỳ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ với pin năng lượng mặt trời và

máy giặt, điều tra áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu theo quy định

của Mục 232 vì lý do an ninh quốc gia với thép và nhôm, điều tra chống

lẩn tránh thuế với thép cán nguội và thép các bon chống ăn mòn; Australia

điều tra chống bán phá giá với dây thép (trong đó áp dụng điều kiện thị

trường đặc biệt – một điều khoản tương đương với việc xác định nền kinh

tế phi thị trường); Canada điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp với

sản phẩm khớp nối bằng đồng của Việt Nam,…160

 

CƠ CẤU SẢN PHẨM BỊ KIỆN

Bên cạnh đó, có một số thông tin báo chí trong và ngoài nước phản ánh

về hiện tượng vận chuyển số lượng lớn nhôm có nguồn gốc Trung Quốc từ

Mexico sang Việt Nam để xuất khẩu đi các nước khác, cũng như những

thông tin liên quan đến việc thép Việt Nam nhập khẩu vào EU có dấu hiệu

gian lận xuất xứ. Tất cả các vụ việc này đều liên quan đến nghi vấn hàng

hóa gian lận xuất xứ của Việt Nam để nhập khẩu vào các nước khác nhằm

lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại đang có hiệu lực. Trên thực tế, để lẩn

tránh các biện pháp phòng vệ thương mại, các doanh nghiệp thường thực

hiện một trong hai hành vi sau:

(i) Gian lận xuất xứ: Được hiểu là hàng hóa được đưa từ nước ngoài vào

Việt Nam để thực hiện một số công đoạn gia công rất đơn giản như đóng

gói lại, thay đổi kích cỡ… với hàm lượng giá trị gia tăng không đáng kể hoặc

thậm chí chỉ trung chuyển ở Việt Nam mà không có giá trị gia tăng nhưng

vẫn được “xác định” là hàng hoá có xuất xứ từ Việt Nam nhằm lẩn tránh

biện pháp phòng vệ thương mại. Các hành vi này bị coi là gian lận thương

mại, bị cấm theo các cam kết quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Biểu đồ 14: Số vụ việc PVTM mới trong năm 2017

(ii) Chuyển một hoặc một số công đoạn sản xuất nhằm tạo hàm lượng

giá trị gia tăng đáng kể, đủ lớn sang Việt Nam để hàng hóa đáp ứng các

tiêu chí xuất xứ của Việt Nam. Theo thông lệ quốc tế cũng như quy định

của WTO, đây là các hành vi không bị cấm.

1.2. Các vụ việc giải quyết tranh chấp tại WTO

Tính đến tháng 12/2017, Việt Nam đã khởi kiện 3 vụ việc ra Cơ quan

giải quyết tranh chấp của WTO (DSB), trong đó, 2 vụ việc DS404 và DS429

liên quan đến biện pháp chống bán phá giá tôm do Hoa Kỳ áp dụng đã kết

thúc với kết quả tích cực cho Việt Nam, 1 vụ việc đang trong quá trình xét

xử tại Cơ quan phúc thẩm của DSB liên quan đến biện pháp tự vệ đối với

sản phẩm tôn lạnh do Indonesia áp dụng (trước đó Ban Hội thẩm trong vụ

việc đã ban hành phán quyết có lợi cho Việt Nam).

1.3. Vấn đề kinh tế thị trường

Vấn đề kinh tế thị trường vẫn là một nội dung được Việt Nam quan tâm

thảo luận với các đối tác. Tính đến nay đã có 69 nước công nhận kinh tế thị

trường của Việt Nam. Tuy nhiên, trong số đó lại không có các đối tác nhập

khẩu lớn của Việt Nam cũng như các nước thường xuyên áp dụng biện

pháp phòng vệ thương mại với Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Canada, Brazil,

Thổ Nhĩ Kỳ… Điều này đã dẫn đến phương pháp tính biên độ bán phá giá

gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo Điều 255 của Báo

cáo Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam, sau ngày 31/12/2018

các nước sẽ không còn được mặc nhiên coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị

trường. Điều khoản tương tự cũng áp dụng đối với Trung Quốc nhưng với

thời hạn sớm hơn (ngày 11/12/2016).

Do đó, trọng tâm năm 2017 về vấn đề kinh tế thị trường của Việt Nam

là theo dõi và phân tích sự thay đổi chính sách của các nước trong vấn đề

này. Trên cơ sở kết quả phân tích, Bộ Công Thương đã chủ động nghiên cứu

và dự báo những tác động, hệ lụy đến tiến trình hội nhập, khả năng xuất

khẩu của Việt Nam để tham mưu báo cáo Thủ tướng Chính phủ về chiến

lược của Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Ngoài ra, Bộ Công

Thương cũng đang đẩy mạnh với phía Hoa Kỳ và EU về vấn đề xem xét

chính sách kinh tế thị trường đối với Việt Nam trong thời gian tới.

1.4. Một số phân tích, đánh giá

1.4.1. Kết quả đạt được

Trong tất cả các vụ việc, Bộ Công Thương và bộ phận kinh tế, thương

mại tại Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài luôn chủ động thu thập thông

tin từ các bên liên quan, tổ chức các buổi làm việc với doanh nghiệp và

hiệp hội, trên cơ sở đó xây dựng phương án ứng phó để đảm bảo lợi ích

cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời Bộ Công Thương cũng tích cực

phối hợp với các doanh nghiệp trong quá trình bị điều tra như tư vấn cho162

 

các doanh nghiệp bị thẩm tra, gửi các bản lập luận và ý kiến thay mặt

Chính phủ Việt Nam.

Nhờ những nỗ lực và sự phối hợp của các doanh nghiệp, hiệp hội và Bộ,

một số vụ việc đã đạt được kết quả tích cực như: 2 vụ việc chống trợ cấp của

Australia với nhôm ép và thép mạ kẽm đã chấm dứt do các doanh nghiệp

Việt Nam chứng minh được việc không nhận được bất cứ khoản trợ cấp có

thể đối kháng nào từ Chính phủ (nhôm) và do biên độ trợ cấp không đáng

kể (thép). Vụ việc chống bán phá giá của Australia với thép mạ kẽm, có 2

doanh nghiệp Việt Nam cũng được chấm dứt điều tra do biên độ bán phá

giá không đáng kể.

Vụ việc chống bán phá giá của Hoa Kỳ với sợi cũng đã được chấm dứt

do nguyên đơn rút đơn kiện đối với Việt Nam. Vụ việc chống bán phá giá

đối với tháp gió và dây thép do Australia điều tra cũng đạt được kết quả

sơ bộ tích cực khi cơ quan điều tra xác định các doanh nghiệp Việt Nam

không bán phá giá (vụ việc thép dây) và không gây thiệt hại đáng kể (vụ

tháp gió).

Như vậy, tính đến hết năm 2017, đã có 37 vụ việc điều tra kết thúc bằng

việc không áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất

khẩu của Việt Nam (chiếm 33 % tổng số vụ việc khởi xướng điều tra), trong

đó chống bán phá giá: 19 vụ, chống trợ cấp: 7 vụ, tự vệ: 11 vụ. Để đạt được

kết quả như vậy trước hết là nhờ sự tham gia nghiêm túc, đầy đủ của các

bên liên quan (chính phủ, doanh nghiệp) trong từng vụ việc cụ thể cũng

như sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ và doanh nghiệp trong suốt quá

trình xử lý vụ việc (hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp, phối hợp chia sẻ thông

tin, hỗ trợ tham vấn với chính phủ nước điều tra…).

1.4.2. Tồn tại, hạn chế

Thực tế hiện nay, một số doanh nghiệp xuất khẩu còn bị động, chưa

thực sự nhận thức rõ ràng về nguy cơ nảy sinh các vụ việc điều tra phòng

vệ thương mại cũng như hậu quả tiêu cực của những vụ việc này đối với

hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp và thậm chí là của các

ngành xuất khẩu Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp còn có tâm lý né tránh,

không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ vào công tác kháng kiện, do

đó hậu quả tiêu cực đối với các doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi.

Các doanh nghiệp, chính phủ sẽ phải đầu tư đáng kể nguồn nhân lực,

thời gian và kinh phí cho việc tham gia giải quyết toàn bộ vụ việc điều tra

phòng vệ thương mại như chi phí thuê luật sư tư vấn, tham gia trả lời câu

hỏi, thẩm tra tại chỗ, cung cấp thông tin, nghiên cứu và xây dựng hệ thống

các tài liệu chứng minh, lập luận bảo vệ và các dữ liệu, số liệu về các giá

trị thay thế…

Bên cạnh đó, ngay khi vụ việc phòng vệ thương mại được khởi xướng

thì các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã phải đối mặt với việc đảo163

 

lộn và thay đổi kế hoạch kinh doanh, đầu tư sản xuất, chiến lược mặt

hàng của doanh nghiệp mình để đáp ứng với những thay đổi mới của thị

trường xuất khẩu.

Việc một quốc gia/thị trường đã tiến hành điều tra và áp thuế phòng vệ

thương mại với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có thể dẫn tới nguy cơ

các quốc gia/thị trường khác cũng tiến hành điều tra với sản phẩm tương

tự nhập khẩu từ Việt Nam nếu chính phủ, các doanh nghiệp không phối

hợp đầy đủ thì tác động sẽ lớn hơn rất nhiều.

Ngoài ra, quy định pháp lý của Việt Nam chưa có chế tài đối với việc

doanh nghiệp không phối hợp đầy đủ trong quá trình điều tra, gây thiệt

hại cho cả ngành sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

  1. Các vụ việc phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu

vào Việt Nam

2.1. Các vụ việc phòng vệ thương mại do Việt Nam khởi xướng điều

tra áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2017

Biểu đồ 15: Số lượng vụ việc điều tra PVTM năm 2017

Trong năm 2017, Bộ Công Thương đã ban hành quyết định cuối cùng

của 03 vụ việc phòng vệ thương mại khởi xướng từ năm 2016 (1 vụ việc

điều tra áp dụng biện pháp tự vệ và 2 vụ việc điều tra áp dụng biện pháp

chống bán phá giá), tiến hành rà soát 1 vụ việc chống bán phá giá và khởi

xướng 1 vụ việc vụ việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ.

2.1.1. Kết thúc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm tôn màu

(vụ việc SG05)

Ngày 6/7/2016, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2847/QĐ-

BCT về việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm tôn màu

nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ khác nhau.164

 

Ngày 31/5/2017, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1931/QĐ-

BCT về việc áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với mặt hàng tôn

màu nhập khẩu, theo đó Việt Nam áp dụng biện pháp tự vệ chính thức

bằng hạn ngạch thuế quan đối với tôn màu nhập khẩu trong thời gian

3 năm kể từ ngày 15/6/2017. Theo đó, trong thời gian từ ngày 15/6/2017

đến ngày 14/6/2017, lượng hạn ngạch không chịu thuế dành cho hàng

hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và các quốc gia/vùng

lãnh thổ khác lần lượt là khoảng 323 nghìn tấn, 34 nghìn tấn, 14 nghìn

tấn và 8 nghìn tấn. Mức hạn ngạch sẽ được điều chỉnh tăng 10% mỗi năm

tiếp theo. Mức thuế tự vệ ngoài hạn ngạch theo Quyết định của Bộ Công

Thương là 19%. Đến ngày 15/6/2020, nếu không gia hạn, biện pháp hạn

ngạch sẽ được gỡ bỏ.

Để chuẩn bị cho việc triển khai áp dụng biện pháp tự vệ bằng hạn

ngạch nhập khẩu, trước đó Bộ Công Thương đã làm việc với Bộ Tài chính

(Tổng cục Hải quan), các đơn vị liên quan để cùng phối hợp triển khai. Nhờ

sự chuẩn bị kỹ trước khi áp dụng, biện pháp hạn ngạch thuế quan đối với

tôn màu cho đến nay đã được áp dụng hiệu quả, góp phần hạn chế tình

trạng nhập khẩu ồ ạt đồng thời vẫn đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng và

sự cạnh tranh trên thị trường trong nước.

2.1.2. Kết thúc vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá

đối với sản phẩm tôn mạ kẽm (vụ việc AD02)

Ngày 3/3/2016, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 818/QĐ-

BCT về việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt

hàng thép mạ nhập khẩu vào Việt Nam có nguồn gốc xuất xứ từ Trung

Quốc và Hàn Quốc.

Ngày 30/3/2017, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1105/QĐ-

BCT áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính thức đối với sản phẩm

thép mạ nhập khẩu. Theo đó, mức thuế chống bán phá giá chính thức đối

với sản phẩm thép mạ có xuất xứ từ Trung Quốc ngoại trừ Công ty Yieh

Phui (China) Technomaterial Co.,Ltd có mức thuế thấp ở mức 3,17%,

hàng hóa nhập khẩu từ các công ty còn lại chịu mức thuế 26,36% đến

38,34%. Đối với hàng hóa nhập khẩu từ Hàn Quốc, hàng hóa do công ty

Posco sản xuất chịu mức thuế trên 7%, hàng hóa từ các công ty khác chịu

mức thuế 19%.

Tôn mạ là một trong những sản phẩm chủ lực của ngành công nghiệp

thép Việt Nam với hơn 30 nhà máy có công suất gần 3 triệu tấn, đáp ứng

được nhu cầu trong nước và phục vụ xuất khẩu. Ngành tôn mạ đang giải

quyết công ăn việc làm cho gần 1600 lao động, đóng góp hơn 30 nghìn tỷ

đồng vào tổng sản phẩm quốc dân. Tuy nhiên do hàng nhập khẩu bán phá

giá, ngành sản xuất trong nước đã có lúc bị lỗ, phải giảm lượng lao động và

tồn kho tăng nhanh. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp bảo vệ hợp pháp của

WTO là một giải pháp giúp ngành tôn mạ đứng vững trước sức ép dư thừa

công suất trên thế giới.

2.1.3. Kết thúc vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá

đối với sản phẩm thép hình chữ H (vụ việc AD03)

Ngày 5/10/2016, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 9269/QĐ-

BCT về việc tiến hành điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đốiv

ới sản phẩm thép hình chữ H, có mã thép hình chữ H, có mã HS 7216.33.00,

7228.70.10 và 7228.70.90 có xuất xứ từ Trung Quốc.

Ngày 2/8/2017, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 3283/QĐ-

BCT về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính thức đối với một số

mặt hàng thép hình chữ H nhập khẩu vào Việt Nam, có xuất xứ từ Trung

Quốc. Biện pháp chống bán phá giá chính thức được áp dụng dưới hình

thức thuế nhập khẩu bổ sung, mức thuế của hàng hóa nhập khẩu từ Trung

Quốc giao động từ hơn 20% đến gần 30%.

2.1.4. Rà soát lần thứ hai biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng

thép không gỉ cán nguội nhập khẩu vào Việt Nam (vụ việc AR02.AD01)

Theo quy định của Pháp luật Chống bán phá giá của Việt Nam, sau một

năm kể từ ngày ban hành quyết định áp dụng biện pháp thuế CBPG, các

bên liên quan có quyền gửi yêu cầu rà soát đối với các nội dung trong quyết

định áp dụng biện pháp CBPG nêu trên. Ngày 19/2/2017, Bộ Công Thương

đã thông báo về việc tiếp nhận Hồ sơ yêu cầu rà soát lần thứ hai việc áp

dụng thuế CBPG đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội nhập

khẩu vào Việt Nam. (Mã vụ việc: AR02.AD01)

Ngày 23/5/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1849/QĐ-

BCT tiến hành rà soát áp dụng biện pháp chống bán phá giá lần thứ hai

đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội nhập khẩu. Hiện nay, Bộ

Công Thương đã kết thúc điều tra vụ việc và đang trong quá trình hoàn tất

Kết luận điều tra cuối cùng.

2.1.5. Vụ việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phân

bón DAP (vụ việc SG06)

Ngày 12/5/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1682A/

QĐ-BCT về việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm

phân bón nhập khẩu vào Việt Nam.

Trên cơ sở Kết luận điều tra sơ bộ của vụ việc, ngày 4/8/2017, Bộ Công

Thương ban hành Quyết định số 3044/QĐ-BCT về việc áp dụng biện pháp

tự vệ tạm thời đối với sản phẩm phân bón DAP và MAP. Căn cứ theo Quyết

định này, mức thuế tự vệ tạm thời là 1,855,790 VND/tấn và bắt đầu có hiệu

lực chính thức từ ngày 19/8/2017.

Hiện nay, Bộ Công Thương đã kết thúc điều tra vụ việc và đang trong

quá trình hoàn tất Kết luận điều tra cuối cùng.

2.2. Một số đánh giá

Trong các vụ việc điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, Cơ quan điều tra đã và đang

thực hiện đầy đủ quy định pháp luật, quy định của WTO. Tuy nhiên, trong

quá trình điều tra vẫn phát sinh một số khó khăn, cụ thể gồm có:

Thứ nhất, các doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng còn lúng túng,

thiếu kỹ năng trong việc chuẩn bị số liệu, thông tin phục vụ vụ việc phòng

vệ thương mại.

Thứ hai, việc thu thập số liệu, tìm hiểu về thực trạng hoạt động của

ngành sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn do hạn chế về thông tin và

sự phối hợp của nhiều bên liên quan trong vụ việc.

Thứ ba, việc cập nhật dữ liệu về ngành sản xuất sản phẩm thượng

nguồn và hạ nguồn trong điều tra vụ kiện phòng vệ thương mại gặp nhiều

khó khăn trong thu thập, tiếp cận thông tin.

Những khó khăn hiện nay xuất phát từ các nguyên nhân sau:

(i) Các doanh nghiệp chưa có đủ thông tin và kinh nghiệm tham gia các

vụ việc phòng vệ thương mại.

(ii) Các cơ quan liên quan chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả trong quá

trình điều tra.

 

CHƯƠNG VI:

CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA

 

  1. TÌNH HÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
  2. Hoạt động và quan hệ thương mại của Việt Nam trong WTO

Năm 2017, Việt Nam tiếp tục tuân thủ và thực hiện nghiêm túc các quy

định chung và cam kết trong WTO, đóng góp tích cực và chủ động với tư

cách thành viên có trách nhiệm của hệ thống thương mại đa phương. Bên

cạnh đó, Việt Nam cũng luôn chủ động, tích cực tham dự các phiên hop

thường kỳ của WTO trong các lĩnh vực như nông nghiệp, trợ cấp, chống

bán phá giá, tự vệ, dịch vụ, sở hữu trí tuệ cũng như các phiên rà soát chính

sách thương mại của các nước để nắm bắt tình hình thực thi của các nước,

từ đó có biện pháp đối phó phù hợp nếu ảnh hưởng tới lợi ích chính đáng

của doanh nghiệp trong nước.

Một trong những sự kiện quan trọng nhất của WTO trong năm 2017

là Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 11 (MC11) diễn ra vào ngày 10 – 13/12/2017

tại Buenos Aires, Argentina. Hội nghị này được kỳ vọng sẽ đánh dấu mốc

quan trọng trong việc quyết định tương lai của Vòng đàm phán Doha nói

riêng và của cả WTO nói chung trong bối cảnh tình hình kinh tế-chính trị

thế giới có nhiều thay đổi. Theo đó, Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá

trình thảo luận nội dung, xây dựng văn kiện để cùng các Thành viên tiến

tới thống nhất những vấn đề chủ chốt, góp phần vào thành công chung của

Hội nghị. Trước đó, tại Hội nghị Bộ trưởng phụ trách thương mại của các

nền kinh tế APEC diễn ra vào tháng 5/2017 tại Hà Nội, với tư cách là nước

chủ nhà, Việt Nam đã kêu gọi các nước thành viên APEC có các biện pháp

để củng cố hệ thống thương mại đa phương nói chung và nỗ lực thúc đẩy

đàm phán để có những kết quả cụ thể tại MC11 nói riêng.

  1. Hiệp định TPP và CPTPP

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được 12 nước

gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New

Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam ký cam kết vào tháng

2/2016 tại New Zealand. Tháng 1/2017, Hoa Kỳ đã tuyên bố chính thức rút

khỏi Hiệp định này.

Trong thời gian qua, Việt Nam cùng với các nước thành viên TPP đã

nỗ lực tìm kiếm một giải pháp phù hợp cho Hiệp định này trong bối cảnh

không có sự tham gia của Hoa Kỳ. Sau một loạt các phiên họp ở cấp Trưởng

đoàn đàm phán, tại phiên họp cấp Bộ trưởng các nước TPP diễn ra bên lề

Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 tại Đà Nẵng vào tháng 11/2017, các Bộ trưởng

của 11 nước TPP đã nhất trí đổi tên Hiệp định TPP thành Hiệp định Đối

tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đồng thời ra

Tuyên bố chung khẳng định các nước TPP đã thống nhất được những vấn

đề cốt lõi của Hiệp định này theo hướng giữ nguyên nội dung của Hiệp định

TPP nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn một số ít các nghĩa vụ

để bảo đảm sự cân bằng trong bối cảnh mới. Các Bộ trưởng cũng nhất trí

rằng Hiệp định CPTPP là một Hiệp định toàn diện, có tiêu chuẩn cao trên

cơ sở cân bằng lợi ích của các thành viên, có tính đến trình độ phát triển

của các nước.

Kết quả đạt được tại Đà Nẵng đã thể hiện nỗ lực rất lớn của 11 nước TPP

nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống

cho người dân, tạo thuận lợi cho phát triển thương mại và tăng cường hợp

tác kinh tế giữa các nước trong khu vực. Việt Nam, với vai trò là nước chủ

nhà và giúp Nhật Bản đồng chủ trì cuộc họp cấp Bộ trưởng, đã có những

đóng góp thiết thực và xây dựng vào thành công chung của Hội nghị.

  1. FTA giữa Việt Nam và Khối Thương mại tự do Châu Âu (EFTA)

Trên cơ sở tiềm năng hợp tác kinh tế giữa Khối EFTA và Việt Nam cũng

như nhu cầu của các doanh nghiệp, nhà đầu tư, từ năm 2009, lãnh đạo cấp

cao của Việt Nam và Khối EFTA đã nhất trí sẽ nâng tầm hợp tác kinh tế

hai bên thông qua thảo luận một FTA giữa Việt Nam và khối EFTA (gồm 4

thành viên là Iceland, Na Uy, Thụy Sỹ và Liechtenstein). Đàm phán được

chính thức khởi động vào ngày 03/07/2012.

Đến nay, hai Bên đã trải qua 15 phiên đàm phán chính thức và 2 phiên

đàm phán cấp Trưởng đoàn. Hiện tại, hai bên đã xác định được các vấn đề

còn tồn tại trong các lĩnh vực quan trọng của Hiệp định như Thương mại

hàng hóa, Thương mại dịch vụ, Đầu tư, Mua sắm Chính phủ, Sở hữu trí

tuệ, Quy tắc xuất xứ và Hải quan. Dự kiến các phiên đàm phán tiếp theo

sẽ được tổ chức trong năm 2018 để hai Bên tiếp tục thúc đẩy trao đổi nhằm

sớm đạt được sự thống nhất đối với những vấn đề còn tồn tại.

  1. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Israel

Kể từ khi hai Bên tuyên bố khởi động đàm phán FTA vào tháng 12/2015,

cho đến nay, đàm phán FTA giữa Việt Nam và Israel đã trải qua 3 phiên và

đã đạt được một số tiến triển nhất định. Dự kiến trong năm 2018, hai Bên

sẽ tiếp tục thúc đẩy tiến trình đàm phán để sớm đạt được một FTA với kết

quả cân bằng, đem lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp của cả Bên.

  1. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)

Từ giữa năm 2016, Việt Nam và EU đã tổ chức rà soát pháp lý Hiệp

định và đã hoàn tất việc rà soát pháp lý ở cấp kỹ thuật vào cuối tháng

6/2017, chỉ còn một số nội dung phát sinh trong đó có vấn đề liên quan đến

thẩm quyền phê chuẩn các FTA của phía EU.

Đối với thẩm quyền phê chuẩn các FTA của EU, ngày 16/5/2017, Tòa

án Công lý Châu Âu đã có ý kiến chính thức. Theo đó, các nội dung về đầu

tư gián tiếp của nước ngoài và cơ chế nhà đầu tư kiện Chính phủ (ISDS)

sẽ thuộc thẩm quyền quyết định của cả cấp EU và cấp quốc gia các nước

thành viên (tức là nội dung này phải được cả EU và quốc gia thành viên

đồng ý mới có hiệu lực). Điều này sẽ khiến cho việc đàm phán, ký kết và

phê chuẩn các FTA của EU, trong đó có EVFTA sẽ trở nên phức tạp và mất

thời gian nhiều hơn.

Do đó, để sớm ký kết và đưa EVFTA vào thực thi, vào cuối tháng 9/2017,

EU đã chính thức đề xuất với Việt Nam việc tách riêng nội dung bảo hộ

đầu tư và cơ chế ISDS khỏi EVFTA. Theo đề xuất này, EVFTA sẽ được tách

thành hai Hiệp định riêng biệt, bao gồm:

– Hiệp định thương mại tự do (chính là toàn bộ nội dung EVFTA hiện

nay nhưng riêng phần đầu tư chỉ bao gồm tự do hóa đầu tư trực tiếp nước

ngoài): Hiệp định này sẽ thuộc thầm quyền ký kết của Uỷ ban Châu Âu

(EC) và Nghị viện Châu Âu (EP).

– Hiệp định bảo hộ đầu tư được gọi tắt là IPA (bao gồm nội dung bảo hộ

đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư): Hiệp định này phải được sự phê

chuẩn của cả EP và của Nghị viện các nước thành viên.

Tại phiên họp cấp kỹ thuật và cấp Trưởng đoàn về đề xuất tách nội

dung đầu tư ra khỏi Hiệp định EVFTA diễn ra từ ngày 23 – 26/10/2017 tại

Bruxelles – Vương quốc Bỉ, EU khẳng định cách tiếp cận mới chỉ liên quan

đến vấn đề kỹ thuật, không thay đổi kết quả đàm phán mà hai bên đã đạt

được. Qua rà soát sơ bộ, các nội dung điều chỉnh của EU đề xuất không thay

đổi bản chất cam kết, không làm phát sinh thêm nghĩa vụ của Việt Nam.

Kế hoạch của EU là hoàn tất các vấn đề kỹ thuật cho cả Hiệp định FTA

và Hiệp định IPA để trình cùng lúc cả hai Hiệp định ra Nghị viện Châu Âu

vào thời gian sớm nhất có thể. Sau đó Hiệp định FTA sẽ được trình EP phê

chuẩn để sớm đưa vào thực thi, còn Hiệp định IPA sẽ đi theo kênh riêng

(được phê chuẩn tại cả EP và Nghị viện các nước thành viên).

  1. Hiệp định ASEAN – Hồng Kông (Trung Quốc)

Trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 31, các Bộ trưởng

Kinh tế ASEAN đã tiến hành ký kết hai Hiệp định Thương mại tự do

ASEAN-Hồng Kông (AHKFTA) và Hiệp định Đầu tư ASEAN – Hồng Kông.

Hiện nay, Việt Nam đang hoàn thành các thủ tục trong nước để ký Hiệp

định này.

  1. Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)

Đàm phán Hiệp định RCEP giữa ASEAN và 6 nước đối tác (Ấn Độ, Hàn

Quốc, Nhật Bản, New Zealand, Australia, Trung Quốc) đã diễn ra 20 phiên

chính thức và nhiều phiên giữa kỳ kể từ phiên đầu tiên vào tháng 5/2013.

Các Bộ trưởng RCEP cũng đã họp 8 phiên (5 phiên chính thức và 3 phiên

giữa kỳ) để chỉ đạo đàm phán.

Mặc dù đã được các Nhà Lãnh đạo RCEP giao nhiệm vụ sớm kết thúc

đàm phán, tuy nhiên, các bên vẫn chưa đạt được tiến bộ ở các nội dung chính

như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư. Phần lớn các vướng

mắc trong đàm phán là do có sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển, tham

vọng trong đàm phán và khả năng thực thi cam kết giữa các thành viên.

Là nước chủ tịch ASEAN 2017, Philippines đã đề ra một trong những

ưu tiên của năm 2017 là kết thúc cơ bản đàm phán Hiệp định RCEP. Tuy

nhiên, cho đến nay mục tiêu này vẫn chưa đạt được.

Để thể hiện quyết tâm và sự nỗ lực của các nước ASEAN, Philippines

và các nước ASEAN đã tổ chức Hội nghị Cấp cao RCEP bên lề Hội nghị

Cấp cao ASEAN vào ngày 14/11/2017 để khẳng định mục tiêu kết thúc

đàm phán Hiệp định trong năm 2018. Tại Hội nghị này, các Nhà Lãnh đạo

RCEP đã thông qua Tuyên bố chung về đàm phán Hiệp định RCEP, trong

đó tái khẳng định quyết tâm đạt được một Hiệp định đối tác kinh tế toàn

diện, cùng có lợi, tiêu chuẩn cao, hiện đại, cam kết cả gói, giúp thiết lập môi

trường đầu tư và thương mại thuận lợi trong khu vực, đồng thời giao nhiệm

vụ cho các Bộ trưởng và các nhà đàm phán nỗ lực hơn nữa trong năm 2018

để kết thúc đàm phán Hiệp định RCEP.

  1. Công tác APEC

Năm 2017, Việt Nam tái đăng cai APEC sau 11 năm với nhiều nhiệm

vụ chính trị đặt ra trong cả năm nhằm triển khai hiệu quả chủ đề và các

ưu tiên của năm APEC 2017. Cụ thể, các sự kiện chính của năm APEC Việt

Nam 2017 bao gồm:

– Hội nghị các Quan chức Cao cấp APEC lần thứ nhất năm 2017 (SOM

1) và các sự kiện liên quan tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, từ

ngày 18/02/2017 đến ngày 03/3/2017.

– Hội nghị các Quan chức Cao cấp APEC lần thứ hai năm 2017 (SOM 2) và

các sự kiện liên quan tại Hà Nội từ ngày 08/5/2017 đến ngày 18/5/2017.

– Hội nghị các Bộ trưởng Phụ trách Thương mại APEC lần thứ 23 (MRT

23) tại Hà Nội từ ngày 20 đến ngày 21 tháng 5 năm 2017.

– Hội nghị các Quan chức Cao cấp APEC lần thứ ba năm 2017 (SOM

3) và các sự kiện liên quan tại thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 18/8/2017

đến ngày 30/8/2017.

– Hội nghị các Quan chức Cao cấp APEC phiên tổng kết (CSOM), từ

ngày 06 đến ngày 07 tháng 11 năm 2017 tại Đà Nẵng.

– Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế APEC lần thứ 29 (AMM

29) ngày 08 tháng 11 năm 2017 tại Đà Nẵng.

– Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 25 (AELM 25) ngày 10 và 11/11/2017

tại Đà Nẵng cùng các sự kiện bên lề có liên quan.

Với nỗ lực của các Bộ, ngành, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Quốc gia

APEC 2017, Tuần lễ Cấp cao (TLCC) APEC 2017 diễn ra từ ngày 06 đến

ngày 11/11/2017 tại thành phố Đà Nẵng đã thành công tốt đẹp, ghi đậm

dấu ấn của nước chủ nhà, đưa Việt Nam lên một tầm cao mới trong bản

đồ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, cũng như trên trường quốc tế. Các

kết quả chính của TLCC APEC 2017, với sự đóng góp tích cực của Bộ Công

Thương đã đạt được một số kết quả tích cực như sau:

– HNCC 25 đã thông qua “tuyên bố đà nẵng về tạo động lực mới

cùng vun đắp tương lai chung”, đồng thời, đạt đồng thuận cao đối với các

nội dung hợp tác quan trọng của APEC trong năm 2017, cụ thể: (i) Thông

qua “Chương trình hành động ApEC về thúc đẩy phát triển bao trùm

về kinh tế, tài chính và xã hội”, nhằm xây dựng cộng đồng APEC phát

triển bao trùm và tự cường; (ii) Thông qua “Khuôn khổ phát triển nguồn

nhân lực trong kỷ nguyên số”, nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng,

sức cạnh tranh và năng suất lao động của các nền kinh tế APEC;

– HNCC 25 dành nhiều thời gian thảo luận về các chính sách và biện pháp

chiến lược, để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và

vừa theo hướng xanh, bền vững và sáng tạo; ủng hộ khởi nghiệp sáng tạo; thúc

đẩy công nghiệp hỗ trợ; phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến

đổi khí hậu; tăng cường an ninh lương thực, nước, năng lượng; phát triển nông

thôn và đô thị; cải cách cơ cấu, nâng cao năng lực, giảm thiểu rủi ro, thiên tai,

tăng quyền năng kinh tế cho nữ giới; phát triển du lịch bền vững v.v.

– Ngoài ra, HNCC 25 tái khẳng định cam kết hoàn tất thực hiện các mục

tiêu Bogor về tự do hóa thương mại và đầu tư; thúc đẩy thuận lợi hóa môi

trường kinh doanh và dịch vụ; tăng cường hợp tác kinh tế, kỹ thuật; tiếp tục

thực hiện các nỗ lực chung hướng tới Khu vực Thương mại Tự do Châu Á –

Thái Bình Dương (FTAAP) trong tương lai, sau khi mục tiêu Bô-go đã được

hoàn thành; nhấn mạnh vai trò quan trọng của APEC trong việc ủng hộ một

hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ, tự do, mở, công bằng, minh

bạch và bao trùm v.v. Có thể nói, ngôn ngữ mạnh mẽ về hệ thống thương mại

đa phương của HNCC 25 là một trong những điểm nhấn quan trọng, trong

bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng trong khu vực và trên thế giới.

Bên cạnh đó, HNCC 25 cũng hoan nghênh việc thông qua “Khuôn khổ APEC

về tạo thuận lợi cho thương mại điện tử xuyên biên giới” nhằm tạo môi trường

thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp nói chung, cũng như các doanh nghiệp

nhỏ, vừa và siêu nhỏ từng bước tiếp cận thị trường khu vực và quốc tế trong

thời đại công nghiệp 4.0.

– Hơn nữa, để phát huy vai trò của APEC – với tư cách là cơ chế khởi

xướng cho hợp tác khu vực và liên khu vực, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức

đối thoại cấp cao không chính thức giữa APEC và ASEAN, nhằm gắn kết

hợp tác khu vực và tiểu khu vực, hài hòa hóa các mối quan hệ liên khu vực,

tiến tới xây dựng một khu vực Châu Á – Thái Bình Dương gắn kết, phồn

vinh, hòa bình và thịnh vượng.173

 

  1. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Tính tới ngày 30/8/2017, ASEAN đã thực hiện được 21 biện pháp ưu

tiên trong số 60 biện pháp ưu tiên được xác lập năm 2017 trong Lộ trình

tổng thể xây dựng AEC 2025. Đáng chú ý là các biện pháp liên quan đến:

Tài liệu tham chiếu của Ủy ban thuận lợi hóa thương mại, Nghị định thư

sửa đổi Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN, Tài liệu về chính sách và luật

cạnh tranh trong ASEAN, Kế hoạch làm việc ASEAN về quản lý tốt, Tài

liệu tham chiếu về Thương mại điện tử, Kế hoạch làm việc ASEAN về mua

sắm chính phủ và Quy định về bảo vệ người tiêu dùng.

Đối với các ưu tiên của nước chủ tịch ASEAN 2017 Philippines, các Bộ

trưởng ASEAN đã cùng nhau ghi nhận kết quả triển khai các ưu tiên về:

Chỉ số Thuận lợi hoá thương mại ASEAN, Kinh doanh với người thu nhập

thấp, Chương trình làm việc về nữ doanh nhân, Chương trình làm việc về

Thương mại điện tử, Tuyên bố ASEAN về đổi mới, Cơ chế rà soát AEC và

Chương trình hành động chiến lược về đầu tư (FAST). Bên cạnh đó, các Bộ

trưởng tiếp tục thảo luận, chỉ đạo cấp kỹ thuật nhanh chóng triển khai và

hoàn thành các ưu tiên về: Chương trình tự chứng nhận xuất xứ cho các

doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, Hiệp định thương mại dịch vụ ASEAN

(ATISA), Kết thúc cơ bản đàm phán RCEP và Hệ thống vận tải RORO.

Tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 49 (AEM 49) diễn

ra vào cuối tháng 9/2017 tại Manila, Philippines, các Bộ trưởng Kinh tế

ASEAN đã ghi nhận kết quả của việc phát triển và cập nhật nguồn cơ sở

dữ liệu nhằm hỗ trợ Ban Thư ký ASEAN giám sát thực hiện các kế hoạch

hành động và theo dõi các chỉ số hoạt động chính trong Khuôn khổ giám

sát và đánh giá AEC 2025, công bố công khai tài liệu AEC Blueprint 2025

trên trang thông tin điện tử của ASEAN, phát hành tài liệu Tóm lược Hội

nhập Kinh tế ASEAN vào tháng 6/2017, lộ trình thực hiện các Kế hoạch

hành động chiến lược về thương mại hàng hóa ASEAN, hợp tác về tiêu

chuẩn và hợp chuẩn, đầu tư, cạnh tranh, phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ, sở hữu trí tuệ, thống kê, bảo vệ người tiêu dùng và phát triển chuỗi

cung ứng trong ASEAN. Ngoài ra, các Bộ trưởng cũng ghi nhận kết quả

việc thông qua Chương trình làm việc ASEAN về quản lý tốt giai đoạn

2016-2025 và Kế hoạch hành động chiến lược về hợp tác thuế quan giai

đoạn 2016-2025.

  1. CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG, CÁC MOU LIÊN

QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA

  1. Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương Việt Nam –

Campuchia

Nhân dịp Hội nghị Cấp cao CLMV, ACMECS và WEF-Mê Công tại Hà

Nội, ngày 26/10/2016, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ trưởng174

 

Bộ Thương mại Campuchia đã ký Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại

song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bản Thỏa thuận này có hiệu lực từ

ngày ký, hết hạn vào ngày 31/12/2017.

Theo Bản Thỏa thuận này, Việt Nam được hưởng thuế suất thuế nhập

khẩu 0% áp dụng đối với 29 mặt hàng khi nhập khẩu vào thị trường

Campuchia gồm: sữa và kem, tinh bột sắn, sản phẩm thịt, chế phẩm từ

gạo, bánh kẹo, sơn, sản phẩm nhựa, giấy, gốm sứ, sắt thép và sản phẩm sắt

thép. Ngược lại, Việt Nam dành ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu 0% cho

39 mặt hàng của Campuchia, phần lớn là: nông sản nguyên liệu gồm thịt,

phụ phẩm tươi sống, chanh, thóc gạo, bánh gato, lá thuốc lá nguyên liệu

(theo hạn ngạch), sản phẩm nhựa, sách vở, vải dệt, xe đạp.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng dành cho Campuchia hạn ngạch thuế suất

0% đối với thóc gạo (300.000 tấn/năm) và lá thuốc lá khô (3.000 tấn/năm).

Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp với Bộ Thương mại Campuchia đã

tiến hành đàm phán để sửa đổi, bổ sung Bản Thỏa thuận đã có, áp dụng

cho giai đoạn tiếp theo, tuy nhiên, hai Bên vẫn chưa thống nhất được một

số nội dung quan trọng và hai Bên vẫn tiếp tục quá trình đàm phán.

  1. Các MOU về hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với một số

nước trong khu vực Đông Nam Á

– MOU về hợp tác trong lĩnh vực kinh tế thương mại giữa Bộ Công

Thương Việt Nam và Bộ Thương mại Thái Lan (hai Bộ trưởng ký ngày

17/8/2017)

MOU bao gồm các nội dung hợp tác trong lĩnh vực thuận lợi hóa thương

mại, xúc tiến thương mại, các hợp tác trong khuôn khổ kinh tế – thương

mại đa phương, thống nhất về tổ chức thực hiện, cơ chế tài chính… làm cơ

sở cho sự hợp tác giữa hai Bộ trong lĩnh vực kinh tế, thương mại

– MOU về hợp tác trong lĩnh vực thương mại giữa Bộ Công Thương Việt

Nam và Bộ Thương mại Myanmar (hai Bộ trưởng ký ngày 24/8/2017)

MOU bao gồm các nội dung hợp tác về xóa bỏ rào cản thương mại, xúc

tiến thương mại, biện pháp phòng vệ thương mại, các hợp tác trong khuôn

khổ kinh tế – thương mại đa phương, các lĩnh vực khác, thống nhất về cơ

chế đối thoại, tổ chức thực hiện, cơ chế tài chính… làm cơ sở cho sự hợp tác

giữa hai Bộ trong lĩnh vực thương mại.