Đề xuất mới về thuế GTGT, khuyến khích xuất khẩu

 

Bộ Tài chính vừa công bố lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP (NĐ 100) và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP (NĐ 12) của Chính phủ theo hướng tạo thuận lợi cho người nộp thuế, khuyến khích xuất khẩu.

Khuyến khích xuất khẩu, ngăn chặn lợi dụng chính sách

Theo Bộ Tài chính, từ khi triển khai thực hiện quy định tại NĐ 100 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) và Luật Quản lý thuế, đến nay, nhiều hiệp hội, doanh nghiệp (DN) gửi văn bản đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính nêu vướng mắc và đề nghị hướng dẫn chi tiết để thực hiện.

Nội dung đề nghị chủ yếu tập trung làm rõ sản phẩm nào thuộc đối tượng phải xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng khi xuất khẩu để áp dụng thuế GTGT cho phù hợp? Trị giá tài nguyên, khoáng sản đưa vào chế biến sản phẩm xuất khẩu có bao gồm chi phí vận chuyển tài nguyên, khoáng sản từ nơi khai thác về nơi chế biến? Bên cạnh đó, quy định không hoàn thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu sau đó xuất khẩu đã có cách hiểu khác dẫn đến trong quá trình thực hiện phát sinh vướng mắc cần thiết phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với chủ trương khuyến khích xuất khẩu hàng hóa.

Ngoài ra, qua công tác thanh tra, kiểm tra cho thấy, một số DN, đặc biệt là DN nhà nước đã chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động với giá trị cao so với mức tiền lương, thu nhập của cán bộ công nhân viên và cao hơn nhiều lần so với mức khống chế theo quy định trước đây. Kiểm toán Nhà nước cho rằng, nếu không khống chế mức mua bảo hiểm nhân thọ sẽ dẫn đến các DN nhà nước vận dụng chi mua bảo hiểm nhân thọ ở mức cao, không hợp lý, đồng thời hạch toán vào chi phí được trừ, từ đó ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, phần vốn nhà nước khi xác định giá trị DN.

Do vậy, cần thiết phải ban hành nghị định để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, khuyến khích xuất khẩu. Đồng thời sửa đổi, bổ sung việc khống chế mức chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập DN (TNDN) đối với khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động để tránh lợi dụng chính sách làm giảm nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.

Quy định chi tiết đối tượng chịu thuế GTGT 0%

Theo Bộ Tài chính, dự thảo nghị định bao gồm 3 điều. Trong đó, để tránh cách hiểu khác và tạo thuận lợi cho DN xuất khẩu, Bộ Tài chính đề xuất Chính phủ quy định chi tiết một số trường hợp không thuộc đối tượng áp dụng đối tượng không chịu thuế GTGT và được áp dụng thuế GTGT 0% khi xuất khẩu.

Cụ thể: Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác.

Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên, trừ các trường hợp sau:

Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác và chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật số 13/2008/QH12.

Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh mua về chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật số 13/2008/QH12.

Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu chính không phải là tài nguyên, khoáng sản (tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác) do cơ sở kinh doanh mua về chế biến thành sản phẩm xuất khẩu thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật số 13/2008/QH12.

Cũng tại dự thảo nghị định, Bộ Tài chính đề xuất Chính phủ có hướng dẫn rõ các trường hợp thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT để khuyến khích các DN nhập khẩu hàng hóa sau đó thực hiện xuất bán vào khu phi thuế quan, xuất bán sang nước khác.

Cụ thể, về việc không hoàn thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu sau đó xuất khẩu để phù hợp với thực tế và khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, Bộ Tài chính đề xuất Chính phủ quy định chi tiết như sau: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất bán vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài hoặc xuất trả lại chủ hàng thì thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu không thực hiện xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn.

Ngoài ra tại dự thảo, Bộ Tài chính cũng đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định khống chế mức chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Cụ thể, sửa đổi, bổ sung điểm o khoản 2 Điều 9 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7, Điều 1 NĐ 12. Trong đó, quy định phần chi vượt mức 3 triệu đồng/tháng/người để: Trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động; phần vượt mức quy định của pháp luật về BHXH, về bảo hiểm y tế để trích nộp các quỹ có tính chất an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí bổ sung bắt buộc), quỹ bảo hiểm y tế và quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động… (Theo BTC)